Chương 1: Cơ sở lý luận về dich vu tín dụng khách hàng cá nhân, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng - Chương 2: Thực trạng sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ tín dụng tại ABBANK - Chi nhánh Đà Nẵng. - Chương 3: Các giải pháp nhằm Nâng cao sự hài lòng của khách hàng. cá nhân với dịch vụ tín dụng tại ABBANK -Chỉ nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay, có nhiều bài nghiên cứu về lĩnh vực Sự hài lòng của khách.
Sau đây, tác giả xin dẫn chứng một số bài viết của các nhà nghiên cứu trên thế giớ : Theo bài viết “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng trong ngành ngân hàng bán lẻ” của nhóm tác giả Terrence Levesque va Gordon H.McDougall trong Tap chí Quốc tế về tiếp thị ngân hàng, quyển 14 (7): 9 — năm 1996, theo nghiên cứu của nhóm tác giả thì sự hài lòng của khách hàng trong ngành ngân hàng bán lẻ phụ thuộc vào các nhân Chất lượng dịch vụ (bao gồm: nòng cốt ngân hàng, tính quan hệ, sự hữu hình) và Tính cạnh tranh (bao gồm: giá và phí). Nghiên cứu của nhóm tác giả đã góp phần tạo nền móng cho những nghiên cứu về sự hài lòng của khách hang, giá trị từ nghiên cứu này là vô cùng to lớn. Theo bài viết “Những nhân tố chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng tại các ngân hàng ở Ai Cp”, Niveen El Saghier va Demyana Nathan, Hội nghị nghiên cứu kinh doanh quốc: lần thứ 20, năm 2013 tại Dubai, UAE, nhóm tác giả đã tìm hiểu những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng và đề xuất một mô hình nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Những thông tin về sự hài lòng của khách hàng được thu thập thông qua một cuộc điều tra với những khách hàng sử dụng dịch vụ tại ngân hàng.
Trong bảng câu hỏi, các câu hỏi được lấy từ các nghiên cứu trước đó. Nó đo lường sự hài lòng của khách hàng thông qua 5 thành phần của mô hình SERVQUAL (gồm có: Sự đảm bảo, Sự tin cậy, Sự đáp ứng, Sự hữu hình, Sự cảm thông), mỗi thành phần được chia ra thành nhiều câu hỏi (bao gồm 18 cau hỏi). Thang đo Likert được sử dụng cho tắt cả câu trả lời Theo nghiên cứu của Wilson và các cộng sự (trong một bài viết với tiêu đề: Tiếp thị vụ - Kết ¡ khách hàng với doanh nghiệp, được đăng trên tạp chí kinh tế Glasgow năm 2008), sự hài lòng của khách hàng chịu ảnh hưởng bởi nhận thức về chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm và giá cả, cũng như các yếu tố mang tính chất tình huống và các yếu tố cá nhân. Những, yếu tố như cảm xúc của khách hàng hay quan điểm của những người thân trong gia đình hoặc bạn bè cũng có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Khi một khách hàng cảm thấy ngạc nhiên về kết quả tốt hoặc xấu của một dịch vụ, họ thường có xu hướng tìm kiếm những lý do. Sự công bằng cũng có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, nếu một khách hàng cảm thấy họ được đối xử một cách công bằng với những khách hàng khác, họ sẽ cảm thấy hải lòng. Những lời nói từ các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè cũng ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUAN VE DỊCH VỤ TÍN DỤNG VÀ.
SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Có nhiều khái niệm về dịch vụ: Theo Quinn va Gagnon [24], “Dịch vụ là tắt cả những hoạt động kinh tế trong đó sản lượng chính không phải là một sản phẩm”. Philip Kotler [18] định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thẻ có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất”.
Theo Grönroos [13], “Một dịch vụ là một hoạt động hay một loạt các hoạt động ít nhiều mang tính chất vô hình, diễn ra trong sự tương tác giữa khách hàng và nhân viên phục vụ hoặc các hoạt động của nhà cung cấp tạo ra nhằm giải quyết các vấn đề của khách hàng”. Đặc điểm của dịch vụ Theo Bitner, Fisk và Brown (1993) [6]. dịch vụ có các đặc điểm sau: -_ Không thể đụng chạm, tiếp xúc (Intangibility): Dịch vụ là vô hình và không có một sự tồn tại vật lý. Do đó các dịch vụ không thẻ được tiếp xúc, động chạm, nếm hoặc ngửi.
Đây là tính năng rõ nét nhất của một dịch vụ và là sự khác biệt chủ yếu với một sản phẩm. Ngoài ra, nó đặt ra một thách thức lớn cho những người tham gia trong việc tiếp thị một dịch vụ như họ cần phải đính kèm các thuộc tính hữu hình để cung cấp một sản phẩm vô hình. - Không đồng nhấtthay đổi đa dạng (Heterogeneity/Variability): Do bản chất của dịch vụ, mỗi dịch vụ được cung cắp là duy nhất và không thể được lặp đi lặp lại một cách chính xác ngay cả cùng nhà cung cấp dịch vụ. Trong khi các sản phẩm có thể được sản xuất hàng loạt và được đồng nhất trong khi dịch vụ là không thể.
Ví dụ: Tắt cả bánh mì kẹp thịt có một hương vị đặc biệt tại MeDonalds gần như giống hệt nhau. Tuy nhiên, sự phục vụ của các nhân viên có thê không giống nhau cho hai khách hàng liên tiếp. - Tinh dé hw hỏng (Perishal ity): Dịch vụ không thẻ được lưu trữ, lưu lại, trả lại hoặc bán lại một khi ho đã được sử dụng. Sau khi phục vụ cho khách hàng một dịch vụ thì không thể được giao cho một khách hàng khác.
Ví dụ: Một khách hàng không hài lòng với các dịch vụ của một thợ cắt tóc, họ sẽ không tìm lại được mái tóc cũ trước khi cắt. Và họ quyết định không đến thăm tiệm cắt tóc này trong tương lai. - Tính không tách rời (Inseparability): Điều này đề cập đến một thực tế là dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trong cùng một khoảng thời gian Dịch vụ chỉ được hoàn thành cùng với sự hoàn thành tiêu dùng của khách hàng. Nếu chưa có khách hàng thì chưa có hệ thống tạo ra dịch vụ.
Dịch vụ tín dụng ngân hàng a. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tin dung là sự chuyển nhượng một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng đề sau một khoảng thời gian nhất định thì sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, với các nhà doanh nghiệp và cá nhân. Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay.
Với tư cách là người đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội. Trái lại, với tư cách là người cho vay thì ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Phân loại tín dung & Căn cứ vào thời hạn tín dụng: ~ Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn không quá 12 tháng. - Tin dung trung hạn: có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
~ Tín dụng dài hạn: có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng. ®& Căn cứ vào đối tượng tín dụng: ~ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng hình thành vốn. lưu động của các tổ chức kinh doanh ~ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được dùng hình thành tài sản cố định. ® Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: ~ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác đề tiến hành sản xuất hàng, hóa và lưu thông hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ,.Tín dụng tiêu dùng được thể hiện bằng hình thức tiền hoặc bán chịu hàng hóa, việc cấp tín dụng bằng tiền thường do các ngân hàng, quỹ tiết kiệm, hợp tác xã tín dụng và các tô chức tín dụng khác cung cấp. CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái Chất lượng dịch vụ trong các tài liệu về quản lý và tiếp thị là mức độ cảm nhận của khách hàng về dịch vụ, đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của họ, điều này được định nghĩa bởi Zeithaml và cộng sự (1990) [29]. Như vậy chất lượng dịch vụ có thê cho thấy khách hàng được phục vụ trong một tổ chức là tốt hay kém.
Parasuraman xác định chất lượng dịch vụ như “sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức về dịch vụ” (Parasuraman, 1988) [22]. Họ cho rằng đo lường chất lượng dịch vụ như sự khác biệt giữa cảm nhận thực tế về dịch vụ và sự mong đợi sẽ là một cách thức đúng đắn và có thể tìm ra được cách thức quản lý cũng như xác định những khoảng cách về những gì mà họ cung cấp. Mục đích cung cấp các dịch vụ chất lượng là đề làm hài lòng khách hàng. Đo lường chất lượng dịch vụ là một cách tốt hơn hết được các dịch vụ cung cấp là tốt hay xấu và liệu khách hàng có hài lòng với nó không.
Một nhà nghiên cứu đã liệt kê trong nghiên cứu của mình ba thành phần của chất lượng dịch vụ, được gọi là “3 Ps về chất lượng dịch vụ” (Haywood năm 1988) [15]. Trong nghiên cứu này, chất lượng dịch vụ được mô tả bao gồm ba yếu tố sau: ~_ Cơ sở vật chất, quy trình và thủ tục; ~_ Cách ứng xử cá nhân của nhân viên phục vụ; ~_ Cách làm việc chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ để có được chất lượng dịch vụ tốt Ông nói rằng “một sự kết hợp thích hợp và cẩn thận của ba yếu tố phải đạt được”. Những yếu tố tạo ra một sự kết hợp thích hợp này, theo ông, một phan, được xác định bởi cường độ lao động, quá trình thực hiện dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, sự liên lạc và tương tác giữa khách hàng với quá trình cung cấp dịch vụ. Từ cái nhìn đó, ý tưởng này của ông có thể được thiết phù hợp với việc đánh giá chất lượng dịch vụ theo quan điểm của nhân viên.
Mô hình nghiên cứu Chất lượng dịch vụ a.