Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng và năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM Chương 2: Thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Á Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng. tại ngân hàng TMCP Việt Á document 17 of 109. Tai lieu, luan van18 of 109. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RRTD VÀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RRTD CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Rủi ro tín dụng 1.1 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng: A.Lange (Financial Institutions Management – A Mordern Perpective, 2007) đã định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn.” Một cách hiểu khác theo Joel Bessis (Risk Management in Banking, 2001) thì “Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất khi khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay” Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT- NHNN ngày 30/07/2021 của Thống đốc NHNN thì “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận” Như vậy, một cách dễ hiểu thì rủi ro tín dụng (RRTD) là những tổn thất tiềm.
tàng có thể xảy ra khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ với ngân hàng khi đến hạn. Rủi ro tín dụng khi không được kiểm soát có thể gây tổn thất về tài chính cho NHTM dẫn đến giảm thu nhập ròng; về lâu dài lợi nhuận NHTM sẽ bị sụt giảm, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến phá sản ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, rủi ro có thể biểu hiện thành nhiều loại khác nhau. Vì vậy, tùy vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể để đưa ra các tiêu thức phân loại rủi ro khác nhau. Trong nội dung của Luận văn, tác giả phân loại RRTD theo 2 căn cứ, cụ thể: document 18 of 109.
Tai lieu, luan van19 of 109. Căn cứ nguyên nhân dẫn đến phát sinh rủi ro: Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro lựa Rủi ro Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập chọn đảm bảo nghiệp vụ tại trung (nguồn: theo Basel II) Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng - Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng, nguyên nhân dẫn đến rủi ro này là do những hạn chế phát sinh từ quá trình giao dịch, quá trình đánh giá xét duyệt cho vay đối với khách hàng. Bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: loại rủi ro này bắt nguồn ở giai đoạn thẩm định, phân tích tín dụng của khách hàng khi ngân hàng lựa chọn khoản vay để cấp tín dụng. + Rủi ro bảo đảm: là loại rủi ro xuất phát từ các điều kiện bảo đảm khoản vay mà các ngân hàng thường áp dụng như yêu cầu về tài sản đảm bảo ngân hàng chấp nhận, cách thức đảm bảo (cầm cố, thế chấp…) hay giá trị cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảo đảm… + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro phát sinh trong nghiệp vụ quản trị hoạt động cho vay.
- Rủi ro danh mục (Portfolio risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh rủi ro này là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, thông thường được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung + Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố riêng biệt chủ thể vay vốn. Rủi ro nội tại có thể xuất phát từ đặc điểm tình hình hoạt động, tình hình tài chính hay từ cách thức sử dụng vốn của chủ thể vay. + Rủi ro tập trung: là rủi ro phát sinh khi mức dư nợ cho vay tập trung quá nhiều cho một số khách hàng hoặc cho vay quá nhiều tập trung ở một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc vùng địa lý nhất định. Tai lieu, luan van20 of 109.
Căn cứ tính chất của rủi ro - Rủi ro khách quan: Là loại rủi ro xảy ra từ các tác động bên ngoài như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh…hoặc các biến động không lường được trước dẫn đến gây thất thoát vốn vay của ngân hàng mặc dù đã thực hiện đúng và đầy đủ tất cả các quy định theo thỏa thuận tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. - Rủi ro chủ quan: Là loại rủi ro phát sinh từ chính các chủ thể trong quan hệ tín dụng (ngân hàng hoặc bên đi vay) dù vô tình hay cố ý dẫn đến thất thoát vốn vay. Rủi ro chủ quan có thể lường trước và có các phương án để khắc phục, hạn chế nếu ngân hàng chủ động có các phương án chuẩn bị trước khi xảy ra rủi ro.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ tín dụng và từ khái niệm cũng như dấu hiệu của rủi ro tín dụng, có thể thấy rủi ro tín dụng có những đặc điểm sau: - Rủi ro. tín dụng mang tính gián tiếp Đặc điểm này phát sinh từ mối quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn khi ngân hàng cho vay cụ thể: ngân hàng giải ngân vốn cho khách hàng sử dụng theo thời hạn đã thỏa thuận và trong khoảng thời gian này ngân hàng có thể gặp rủi ro thất thoát về vốn do quá trình khách hàng sử dụng vốn có nhiều biến động nhưng ngân hàng không kịp thời cập nhật hoặc không nhận biết đầy đủ và chính xác những khó khăn trong tình hình tài chính của khách hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở nhiều mảng, nhiều lĩnh vực khác nhau trong hoạt động tín dụng của ngân hàng như cho vay, bảo lãnh, tài trợ thương mại…Nhìn chung, các hoạt động tín dụng quy mô càng lớn, lợi nhuận càng cao thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng. Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. - Rủi ro tín dụng có tính tất yếu và luôn tồn tại gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng document 20 of 109.
Tai lieu, luan van21 of 109. 11 Tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng và rủi ro tất yếu luôn tồn tại song song trong các hoạt động cho vay của NHTM. Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn cũng như tình hình tài chính của khách hàng dẫn đến bất cứ một khoản tín dụng nào khi ngân hàng quyết định cho vay cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng: * Các nhân tố từ phía ngân hàng: - Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng: Chất lượng cán bộ tín dụng được đánh giá không chỉ ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn ở đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ. Khi nhắc tới nhân tố từ phía ngân hàng thì đây là nhân tố đầu tiên và quan trọng ảnh hưởng công tác quản trị rủi ro.
tín dụng tại các NHTM - Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng: + Quy trình tín dụng: là việc ngân hàng quy định chi tiết từng bước thứ tự các công việc phải thực hiện và nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ thuộc các bộ phận liên quan kể từ khâu tiếp nhận nhu cầu vay cho đến khi khách hàng tất toán xong khoản vay. Quy trình tín dụng chặt chẽ hiệu quả sẽ hạn chế các sai sót đồng thời giảm thiểu tối đa khả năng phát sinh rủi ro trong quá trình cho vay. Nội dung chính của quy trình tín dụng là nội dung công việc và trách nhiệm của các cá nhân liên quan (cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định, tác nghiệp…) trong ngân hàng phải thực hiện tại các bước khi tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng. Một quy trình tín dụng cơ bản thường được phân chia làm ba giai đoạn: trước cho vay, trong và sau khi cho vay.
Giai đoạn trước cho vay: Là giai đoạn đầu tiên trong quy trình tín dụng. Tại giai đoạn này chuyên viên quan hệ khách hàng chịu trách nhiệm tìm kiếm khách hàng, tư vấn và tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng, từ đó đưa ra các đánh giá đề xuất cấp tín dụng. Nội dung chủ yếu khi đánh giá hồ sơ trước vay gồm: đánh giá tính pháp lý, tình hình tài chính, tình hình tài sản đảm bảo, mục đích sử dụng vốn của khách hàng và các biện pháp đề xuất kèm theo nhằm quản lý, kiểm soát vốn có hiệu quả. Tai lieu, luan van22 of 109.
12 Giai đoạn trong khi cho vay: Sau khi tiếp nhận đề xuất cấp tín dụng đơn vị kinh doanh, các bộ phận thẩm định sẽ đánh giá độc lập lại hồ sơ vay vốn của khách hàng. Nếu hồ sơ đáp ứng đầy đủ các quy định của ngân hàng thì thực hiện hoàn thiện đảm bảo tiền vay (nếu có) và giải ngân. Giai đoạn này, ngân hàng kiểm soát rủi ro thông qua kiểm soát vốn vay được sử dụng đúng mục đích, phương án vay có hiệu quả, khách hàng tuân thủ các điều kiện phê duyệt của ngân hàng. Thực hiện các bước này ngân hàng sẽ có thêm các thông tin về khách hàng.
Nếu các thông tin đảm bảo và có chiều hướng tốt, điều đó cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Giai đoạn sau khi cho vay: là giai đoạn cuối cùng trong quy trình tín dụng, giai đoạn này ngân hàng sẽ thực hiện theo dõi và sử dụng các biện pháp quản lý, kiểm soát khoản vay định kỳ cho đến khi ngân hàng thu hồi đầy đủ gốc lãi của khoản vay thì quan hệ tín dụng mới kết thúc. Các khoản tín dụng có lịch sử trả nợ đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Bên cạnh đó, không ít trường hợp khoản vay phát sinh chậm trả hoặc quá hạn.
Điều này thể hiện dấu hiệu rủi ro tín dụng đã bắt đầu xảy ra.