MỞ ĐẦU Cây vải (Litchi sinensis Sonn) thuộc họ Bồ hòn, có nguồn gốc từ miền Nam – Trung Quốc, Việt Nam và bán đảo Mã Lai. Cây vải là một trong những cây ăn quả Á nhiệt đới đặc sản của Việt Nam. Quả vải có giá trị dinh dưỡng cao, với hương vị thơm ngon nhiều chất bổ, được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Trong thành phần của quả Vải có chứa các chất có giá trị dinh dưỡng cao như: đường dễ tiêu; Vitamin B, C; Sắt; Canxi….Quả Vải ngoài ăn tươi còn được chế biến như: Sấy khô, làm rượu vang, bánh kẹo, nước giải khát… Hoa Vải hàng năm chứa một lượng mật lớn, là nguyên liệu cho nghề nuôi ong.
Ngoài ra cây Vải có khoang tán lớn, tán tròn tự nhiên hình mâm xôi, cành lá sum suê quanh năm; nên cây Vải không chỉ là cây ăn quả mà còn là cây bóng mát, cây chắn gió, cây tạo cảnh quan, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi…góp phần cải tạo môi trường sinh thái. Với những ưu điểm trên, hiện nay diện tích cũng như sản lượng Vải ngày càng tăng cao trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Bắc Giang thì: Bắc Giang là một trong những tỉnh có diện tích trồng Vải lớn (39.835 ha), chất lượng quả vải ngon, được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Huyện Yên Dũng là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, với diện tích tự nhiên là 21.337,68 ha, có tiểu vùng khí hậu đất đai phù hợp với nhiều loài cây ăn quả Á nhiệt đới như: vải, nhãn, hồng, xoài, cam…đặc biệt là cây vải (vì diện tích đồi núi của huyện nhiều).
Trong những năm gần đây, diện tích trồng vải của huyện không tăng và có xu hướng giảm. Người dân chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất, năng suất và chất lượng vải chưa cao. Năm 2009, diện tích trồng vải của huyện là 954 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm là 762 ha. Như vậy, có tới 192 ha Vải không cho thu hoạch.
Năng suất Vải của huyện chỉ đạt 40 tạ/ha (Lục Ngạn: 60 tạ/ha; Tân Yên: 64 tạ/ha; Lạng Giang: 82,4 tạ/ha…. Nguyên nhân chính là do chưa có quy hoạch vùng trồng vải n 2 tập trung để cho năng suất và chất lượng cao. Việc áp dụng sản xuất vải an toàn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chưa được quan tâm, công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm còn chưa thực hiện. Với xu thế hội nhập của nền kinh tế thị trường, đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng cao, có sự đảm bảo về chất lượng, giá cả ổn định.
Chính vì vậy, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho vùng sản xuất vải Bắc Giang nói chung và cây vải Yên Dũng nói riêng phải xác định được thương hiệu trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, từ đó tăng cường lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy việc phát triển một loại cây tăng giá trị thu nhập cho người dân. Để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất của cây Vải trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng vải tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” là việc làm cần thiết tạo cơ sở cho việc thực hiện xây dựng vùng sản xuất vải hàng hóa có thương hiệu trên địa bàn huyện Yên Dũng. Mục đích Xác định các yếu tố hạn chế và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng vải huyện Yên Dũng – tỉnh Bắc Giang. Yêu cầu - Điều tra các hộ sản xuất vải, xác định yếu tố hạn chế năng suất, chất lượng vải, nắm bắt thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải của huyện.
- Phân tích đánh giá thực trạng và tìm ra các yếu tố hạn chế, những tiềm năng thế mạnh phát triển cây vải của huyện. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật canh tác đến năng suất và chất lượng vải của huyện. - Bố trí thí nghiệm để đánh giá hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng vải của huyện; - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất vải trong thời gian tới. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về cây vải của tỉnh Bắc Giang nói chung và của huyện Yên dũng nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giải quyết các vấn đề khó khăn trong sản xuất vải hiện nay của huyện như: năng suất chưa cao, vấn đề về sâu bệnh, mẫu mã, chất lượng vải chưa đạt yêu cầu của thị trường… dẫn đến hiệu quả sản xuất vải còn thấp. Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ giúp các nhà khoa học và các cán bộ kỹ thuật đưa ra các biện pháp canh tác mới phù hợp nhằm nâng cao năng suất chất lượng vải, góp phần nâng cao giá trị sản xuất vải của người dân trong huyện. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp Huyện uỷ, UBND huyện Yên Dũng có chính sách phát triển cây vải, vừa phủ xanh đất trống đồi núi trọc, vừa nâng cao thu nhập cho người dân.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây Vải 2. Nguồn gốc và phân loại cây Vải Cây vải (Nephelium litchi, Litchi chinensis Sonn); thuộc Chi: vải Litchi; Họ: Bồ hòn Sapindaceae; Bộ: Bồ hòn Sapindales; Phân lớp: Hoa hồng Rosidae; Lớp: Ngọc lan Dicotyledoneae (Magnoliopsida); Ngành: Ngọc lan Magnoliophyta (Angiospermae). Theo Hoàng Thị Sản (2003) [27] thì họ Bồ hòn có 150 chi với trên 2000 loài.
Ở Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nhãn, chôm chôm. Về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh, lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt. Theo FAO (1976) [49] theo tài liệu này viết về cây vải đã ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Inđônêxia. Theo nhiều tài liệu, cây Vải có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc, Việt Nam và Bán đảo Malai.
Theo Trần thế Tục (2004) [37] nguồn gốc cây Vải có ở giữa miền Nam Trung Quốc, Việt Nam và bán đảo Malaisia. Người ta thấy cây vải dại mọc thành rừng trên diện rộng ở 4 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây,Vân Nam và đảo Hải Nam (Trung Quốc), và theo điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc thì trên sáu vạn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quang Tây đều có cây Vải dại, chứng tỏ cây Vải có nguồn gốc từ Trung Quốc. Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1989), [24] vào cuối thế kỷ 17, từ Trung Quốc, những cây vải đầu tiên được đưa đến myanma, sau đó lan n 5 rộng sang Đài Loan, mautirius, madagasca và Tây Ấn. Cuối thế kỷ 18 vải được đưa sang Ấn Độ, Anh, Pháp, úc, Mỹ.
Đến thế kỷ 19, cây vải được đưa đến trồng tại israel. Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các công nhân Hoa Kiều gốc Quảng Đông đã đưa cây vải vượt qua xích đạo vào Công Gô. Hiện nay, vải được trồng ở gần 30 nước trên thế giới nhưng chủ yếu được phân bố ở các nước vùng Đông Nam Á, châu Đại Tây Dương, các đảo ở Thái Bình Dương và miền Nam châu Phi. Ở châu Á, các nước trồng vải gồm có: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam.
myanma, campuchia, Lào, malaixia, Nhật Bản, philippin, bănglades, indonesia. Ở châu Phi có: Nam Phi; madagatca, gabông, cônggô. Ở châu Mỹ có: cuba, brazil, hundurat. Ở châu Đại Dương có: autraylia, newziland.
Ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân bố từ 18 – 190 vĩ Bắc trở ra, nhưng chủ yếu vẫn là vùng Đồng bằng Sông Hồng trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ (Trần Thế Tục -2004) [37]. Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam cũng được coi là nước có nguồn gốc phát sinh của cây vải. Cây vải đã được phát hiện mọc ở chân núi Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là những cây vải dại có hình dạng màu sắc, gai quả giống hệt giống vải trồng, chỉ khác quả nhỏ từ 6-8g, cùi mỏng, ăn chua.
ở các vùng này, người ta còn tìm được những cây vải dại quả nhỏ, gai dài, hạt to, ăn chua có đặc điểm tương tự như một số loài vải trồng hiện nay (Vũ Công Hậu, 1999) [17]. Ở Việt Nam, những năm gần đây, cây vải đã và đang phát triển mạnh, năng suất, chất lượng ngày càng tăng cao, đã hình thành một số vùng trồng tập trung như: Lục Ngạn, Tân Yên (Bắc Giang); Thanh Hà – Chí Linh (Hải Dương); Đông Triều (Quảng Ninh); Đồng Hỷ, Phú Lương (Thái Nguyên); Chương Mỹ (Hà Tây).và một số địa phương ở Tây Nguyên như: đăk Nông, đăk lăk, kontum. Các giống vải chủ yếu trên thế Giới và ở Việt Nam 2. Trên thế giới Các giống vải trên thế giới thì hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng giống vải nhiều nhất.
Tuy vậy trong số hơn 100 giống vải được trồng ở Trung Quốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hóa, ở mỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực. Ở tỉnh Quảng Đông, các giống vải trồng mang tính chất thương mại baila, baitangying, hiye, feizixao, gwiwei, nuomici và huaizhi với diện tích mỗi giống trên 20. Tỉnh Vân Nam giống lanzhu được xem là giống trồng chính với diện tích xấp xỉ 25. Các giống mới được chọn tạo có năng suất cao, phẩm chất tốt, hạt lép là: giống Hoonghu (khối lượng quả trung bình 24g/quả, tỷ lệ ăn được 79%, đường tổng số > 18,5%, năng suất cao và ổn định); giống dongguan seedlesss là giống chín sớm, có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường, khối lượng quả lớn 35,3 – 62,0 g/quả, có tỷ lệ quả hạt lép cao trên 90%, đường tổng số >17%, tỷ lệ ăn được trên 80% (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998) [24].
Theo gosh, 2000, [46], ở Ấn Độ, vải được trồng tập trung ở các bang vùng phía Đông, chiếm trên 60% tổng diện tích. Ở các bang phía Bắc Ấn Độ, diện tích vải chiếm 16%.