Chương 1 CO SO LY LUAN VE NANG LUC THUC THI CONG VU CUA CONG CHUC TU PHAP - HO TICH CAP XA 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công chức, công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phô biến nhiều quốc gia trén thé gidi đề chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất.
Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng [32]. Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng, bố nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tô chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức bao gồm cả trung ương, địa phương [26]. Ở Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan hành chính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh đạo và công chức nghiệp vụ.
Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến Pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do các cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điêu lệ công chức, chiêm tuyệt đại đa sô trong công chức nhà nước, chịu 11 trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật [26]. Ở Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước gồm những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc đoanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước.
Công chức địa phương là những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương [22]. Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống nhau trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặc điểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và thường gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nên hành chính nhà nước. Khái niệm công chức lần đâu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [11, tr.
Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chỉ tiết hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Đến năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tại Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: 12 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyên dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [33, tr. Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là "Công dân Việt nam, được tuyển dụng, bồ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tô chức Chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp huyện. Khái niệm công chức cấp xã - Khái niệm công chức câp xã 13 Khái niệm công chức cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước ”.
Như vậy, công chức cấp xã được tuyến dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xa trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Cơ cấu công chức cấp xã Theo Khoản 3, Điều 6l của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: + Trưởng công an; + Chỉ huy trưởng quân sự; + Văn phòng - Thống kê; + Dia chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị tran) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã); + Tài chính - Kế toán; + Tư pháp - Hộ tịch; + Văn hóa - Xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xa.
- Số lượng công chức cấp xã Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bồ trí theo loại đơn vị hành chính cấp xa: cấp xã loại I không quá 14 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyến, điều động, biệt phái về cấp xã). Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Khái niệm Công vụ Theo từ điển Thuật ngữ hành chính, công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý, có tính thường xuyên, chuyên nghiệp, được bảo đảm bằng ngân sách Nhà nước, chủ yếu do các công chức nhà nước tiến hành và được điều chỉnh bởi ý chí thực hiện các chức năng quản lý nhằm ồn định, phát triển xã hội và đời sống nhân dân. Công vụ là một hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước (quyền lực công).
Nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ nhân dân và xã hội. Công vụ là hoạt động phục vụ Nhà nước, tức phục vụ công quyền, suy cho cùng là phục vụ nhân dân. Xét về nội dung, tính chất và cơ sở pháp lý của công vụ thì đây là một loại lao động mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó thể hiện ở: + Là đại diện cho công quyền nên được sử dụng quyền lực của Nhà nước để thi hành nhiệm vụ.
+ Là lao động trí tuệ (trừ một bộ phận nhỏ mang tính dịch vụ đang dần dần được xã hội hoá) có tính sáng tạo, nhạy bén dé hoạch định và thực thi các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước. + Thống nhất cao độ trong lãnh thổ, tập trung cao độ, đồng thời có sự phân cấp thỏa đáng đề phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới. + Hoạt động công vụ mang tính nghề nghiệp nên đòi hỏi trình độ 15 chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp nghiêm túc. + Hoạt động công vụ là hoạt động liên tục, mang tính kế thừa, đồng thời cũng luôn mang tính sáng tạo và thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi thời kỳ.
+ Công vụ chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật, đòi hỏi tính hiệu lực và hiệu quả cao. (Nguyễn Trọng Điều (2007), Về chế độ công vụ Việt Nam, Nxb. Chính tri quéc gia, Hà Nội). Khái niệm năng lực Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
“Năng /c” là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực ” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có dé thực hiện một hoạt động nào đó.