phần mở đầu và kết luận, luận án được cấu trúc thành 03 chương như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về quản trị rủi ro thị trường của ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng Công thương Việt Nam. Chƣơng 3:Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro thị trường tại Công thương Việt Nam. 8 CHƢƠNG 1 CỦANGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro thị trƣờng[26] (RRTT) là rủi ro giá trị của các trạng thái nội hoặc ngoại bảng cân đối kế toán (CĐKT) chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những biến động trong thị trường chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hoá,hay [26, trang 845].
RRTT có thể được phát hiện một cách rõ ràng trong các danh mục đầu tư như chứng khoán ), hàng hoá , hay …) do các loại hình đầu tư này được giao dịch một cách trực tiếp. , , các sản phẩm phái sinh của các giao dịch ngoại hối, các khoản mục nợ có mà dòng tiền được xác định dựa vào tỷ giá. Tuy nhiên, rủi ro thị trường còn chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi một yếu tố ngầm đó là rủi ro lãi suất, phát sinh do có sự không khớp đúng về thời hạn hay qui mô huy động và sử dụng vốn, ảnh hưởng đến lưu chuyển tiền tệ của ngân hàng. Các khoản mục chịu rủi ro lãi suất như các khoản tiền gửi, các khoản tiền vay, trái phiếu, các sản phẩm phái sinh tài chính.
Bên cạnh đó RRTT còn xuất hiện bởi nhiều nguyên nhân khác mà không được thể hiện trên bảng CĐKT. Hiểu một cách tổng quan nhất thì RRTT là khả năng hứng chịu một kết quả thua lỗ trong kinh doanh khi mà thị trường có những biến động và thay đổi ngược 9 chiều so với dự đoán của ngân hàng. Các yếu tố rủi ro chính trên thị trường được xác định qua sự chênh lệch về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và giá cả hàng hóa. Các loại rủi ro thị trƣờng Nhìn chung, RRTT bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro chứng khoán và rủi ro hàng hoá.
Rủi ro lãi suất a. Khái niệm RRLS RRLS tại các NHTM là [4, trang 3]. Trong hoạt động ngân hàng, việc chấp nhận loại rủi ro này là điều bình thường và rủi ro này cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh lời và giá trị cổ đông. Tuy nhiên RRLS cao sẽ đe dọa đến lợi nhuận và vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Biến động lãi suất trên thị trường sẽ làm thay đổi lợi nhuận hiện tại của ngân hàng (current interest earning) thông qua việc thay đổi thu nhập ròng, thu nhập nhạy cảm lãi suất và các chi phí hoạt động của ngân hàng. Thay đổi của lãi suất cũng làm thay đổi giá trị định giá lại TSC, TSN và các công cụ ngoại bảng khác vì giá trị hiện tại (Present Value) của các dòng tiền trong tương lai thay đổi khi lãi suất thay đổi. Nói một cách khác lãi suất thay đổi có ảnh hưởng tới giá trị thị trường của các khoản đầu tư và các tài sản Nợ của ngân hàng. Sự thay đổi này có thể không tác động ngay tới bảng báo cáo thu nhập (income statement) của ngân hàng nhưng ngày càng trở nên quan trọng.
Các loại RRLS: Rủi ro lãi suất có 3 loại: Rủi ro hiển nhiên (Outright Risk), rủi ro đường cong lợi suất (Yield Curve Risk), rủi ro cơ bản (Basic Risk). + Rủi ro hiển nhiên: Là rủi ro gây ra do đường cong lãi suất chuyển dịch song song lên hoặc xuống, các kỳ hạn khác nhau sẽ biến đổi giống nhau. 10 + Rủi ro đường cong lợi suất : Là rủi ro gây ra do đường cong lãi suất thay đổi hình dạng. Khi lãi suất thay đổi lãi suất của các kỳ hạn khác nhau sẽ thay đổi khác nhau.
Rủi ro đường cong lợi suất là rủi ro mà khi đường cong lợi suất trở nên đảo ngược khi lãi suất của kỳ ngắn hạn trở nên cao hơn lãi suất của kỳ dài hạn. + Rủi ro cơ bản: Là rủi ro gây ra khi có sự thay đổi không đồng đều của các cơ sở lãi suất khác nhau. Ví dụ như bên TSC, cho vay đồng đô la Mỹ dựa trên cơ sở lãi suất LIBOR, trong khi đó bên TSN đi vay lại dựa trên cơ sở lãi suất SIBOR mà hai cơ sở lãi suất này thay đổi khác nhau. Như vậy sẽ có RRLS gọi là rủi ro cơ bản trong trường hợp này.
Tác động của RRLS Sự thay đổi của lãi suất có những tác động tới cả thu nhập của ngân hàng cũng như giá trị kinh tế của tài sản sản và nguồn vốn. + Tác động tới thu nhập tương lai của ngân hàng (Earning Perspective) Hậu quả của việc thay đổi lãi suất đã ảnh hưởng tới lợi nhuận thuần và các báo cáo thu nhập của ngân hàng. Đó là phương pháp truyền thống mà các ngân hàng sử dụng khi đánh giá về RRLS. Sự biến động về thu nhập là điểm mấu chốt đối với việc phân tích RRLS bởi vì thu nhập hoặc có những mất mát tài chính sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các tổ chức tài chính và giảm niềm tin vào thị trường.
Yếu tố thu nhập được quan tâm nhiều nhất là thu nhập ròng về lãi suất, tức là chênh lệch giữa tổng thu nhập từ lãi cho vay và chi phí phải trả cho lãi suất huy động. Khi lãi suất thay đổi thì thu nhập cũng như chi phí đều thay đổi gây ra thay đổi về thu nhập lãi suất. = Thu nhập từ lãi - Chi Tuy nhiên, khi các ngân hàng mở rộng ra các hoạt động thu phí và các thu nhập ngoài lãi khác (các hoạt động phi tín dụng), thì các hoạt động này ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất. Ví dụ như một số ngân hàng cung cấp dịch vụ cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng.
Khi lãi suất thay đổi khách hàng có thể không 11 dùng hết hạn mức này, trong trường hợp này khách hàng phải trả một khoản phí gọi là phí cam kết (Commitment Fees), phí này lại phụ thuộc vào hạn mức tín dụng khách hàng đã dùng, mà hạn mức này lại phụ thuộc vào lãi suất thị trường. Ví dụ khác như khi ngân hàng cung cấp dịch vụ các khoản vay đối với các món vay có tài sản đảm bảo để thu phí dựa trên giá trị của tài sản mà ngân hàng quản lý. Khi lãi suất tăng, ngân hàng sẽ thu được ít phí hơn do khách hàng có thể ngừng nhận vay và lấy lại tài sản đảm bảo. Hơn nữa, các thu nhập ngoài lãi truyền thống như các giao dịch có tính phí cũng ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất hơn.
Điều này khiến các nhà giám sát ngân hàng phải có cái nhìn rộng hơn về tác động tiềm ẩn của lãi suất đối với thu nhập của ngân hàng. Để đo lường độ nhạy cảm của thu nhập đối với lãi suất, người ta dùng khe hở định giá lại (Repricing Gap) + Tác động tới giá trị kinh tế của các tài sản Sự thay đổi của lãi suất thị trường cũng có tác động tới giá trị kinh tế của TSC, TSN và trạng thái ngoại bảng của ngân hàng. Do vậy độ nhạy cảm của giá trị kinh tế của các tài sản đối với thay đổi của lãi suất là một điều rất quan trọng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng bởi các nhà điều hành ngân hàng. Giá trị kinh tế của một tài sản là giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai của ngân hàng, được chiết khấu theo lãi suất hiện tại.
Giá trị kinh tế của ngân hàng được xác định bởi giá trị hiện tại của các dòng tiền mong đợi của ngân hàng, được xác định bằng các dòng tiền dự tính của các TSC trừ đi dòng tiền dự tính của TSN cộng với các dòng tiền của các trạng thái ngoại bảng. Với định nghĩa này khi có sự biến động của lãi suất sẽ ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của ngân hàng. Đây là một cách nhìn thấu đáo hơn về những tác động dài hạn của sự thay đổi lãi suất so với việc chỉ xem xét tới sự ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng. Sự đánh giá này là toàn diện hơn bởi những thay đổi của thu nhập ngân hàng trong ngắn hạn có thể không cung cấp những chỉ số chính xác về tác động của sự thay đổi lãi suất tới toàn bộ trạng thái của ngân hàng.
Sự thay đổi của lãi suất tác động tới thu nhập và giá trị kinh tế của các tài sản đã cho thấy sự biến động trong tương lai của lãi suất có thể tác động tới tình hình tài 12 chính của ngân hàng. Khi đánh giá về mức độ RRLS, một ngân hàng cũng nên tính đến tác động của lãi suất trong quá khứ có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động trong tương lai, điển hình như các công cụ trong thị trường tiền tệ không được định giá lại theo thị trường có thể đã có lợi nhuận hoặc mất mát do những sự thay đổi của lãi suất. Lợi nhuận hoặc thua lỗ này có thể đã được thể hiện trong thu nhập của ngân hàng qua thời gian. Ví dụ một món cho vay dài hạn có lãi suất cố định được giải ngân tại thời điểm có lãi suất thấp khi bên Nguồn vốn phải chịu lãi suất cao hơn thì trong thời gian còn lại của khoản vay sẽ gây ra lỗ cho ngân hàng.
Rủi ro hối đoái a. Khái niệm Rủi ro hối đoái là khả năng [26, trang 847]. - là những tổn thất gây ra do sự biến động của tỷ giá. Rủi ro tỷ giá có thể gây ra những thiệt hại to lớn cho ngân hàng, thậm chí có thể dẫn tới phá sản ngân hàng nếu không có các biện pháp và kiểm soát chặt chẽ.
Rủi ro hối đoái đặc biệt hay xảy ra đối với những khoản thu nhập hay chi trả có liên quan tới các loại ngoại tệ có sự biến động mạnh về tỷ giá như EUR, USD, JPY, GBP. Các loại rủi ro trong kinh doanh Rủi ro hoạt động (Operational Risk). Là các khả năng gây ra mất mát trong hoạt động KDNT do các yếu tố phi tài chính gây ra. Rủi ro hoạt động bao gồm: - Rủi ro hệ thống (Systems): Là khả năng mất mát gây ra bởi hệ thống thông tin của ngân hàng không cung cấp đủ và chính xác các thông tin liên quan tới rủi ro.
Nếu một ngân hàng không có đầy đủ thông tin về kế toán và quản lý cho Ban lãnh đạo ngân hàng sẽ có những rủi ro như: + Sự đánh giá đúng mực về rủi ro có thể không được biết.