Chương 1 giới thiệu bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp và nguồn thông tin của nghiên cứu. Chương 2 giới thiệu về cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước. Chương 3 là phần trọng tâm của nghiên cứu với những phân tích về năng lực cạnh tranh của cụm ngành chế biến gỗ cao su Việt Nam. Cuối cùng, Chương 4 là phần kết luận và khuyến nghị chính sách.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Lý thuyết về cụm ngành Theo Porter (2008), “cụm ngành (cluster) là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”. Định nghĩa này nhấn mạnh việc tập trung về mặt địa lý của các hoạt động kinh tế, nhờ đó thúc đẩy hiệu quả trong việc tiếp cận thông tin, nguồn nguyên liệu và lao động, giúp giảm thiểu các chi phí giao dịch phát sinh giữa các doanh nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tính liên kết hình thành trong ngành tạo ra những ngoại tác tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp cùng phát triển. Các doanh nghiệp có điều kiện hơn trong việc tiếp cận, học hỏi và chuyển giao các công nghệ mới với biến phí thấp nhất. Quá trình cạnh tranh còn giúp các doanh nghiệp trong ngành hình thành nên áp lực thúc đẩy đổi mới, qua đó tạo nên tính năng động và sáng tạo cho cụm ngành. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh Theo Porter (2008), khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh là năng suất (productivity), trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian.
Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất đến mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người. Porter (2008) cho rằng để tăng trưởng năng suất bền vững đ i hỏi nền kinh tế phải được liên tục nâng cấp. Porter (2008) đưa ra lý thuyết về năng lực cạnh tranh dựa trên bốn hợp phần cơ bản: Thứ nhất là các điều kiện nhân tố đầu vào; thứ hai là các điều kiện nhu cầu; thứ ba là các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan và; thứ tư là bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp. Các hợp phần của mô hình kim cương bao gồm: (i) Các điều kiện nhân tố đầu vào: bao gồm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, công nghệ và cơ sở hạ tầng.
Để hỗ trợ tối đa cho năng lực cạnh tranh, mỗi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- nhân tố phải được chuyên môn hóa cao độ cho các nhu cầu cụ thể của một ngành. Các nhân tố này cần được kết hợp một cách hiệu quả để tạo cơ sở hình thành năng lực cạnh tranh.1: Mô hình kim cương Bối cảnh cho chiến lược và Vai trò của cạnh tranh của doanh nghiệp Chính phủ Các điều kiện nhân tố Các điều kiện nhu cầu đầu vào Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan Nguồn: Porter (2008), trích từ bài giảng Vũ Thành Tự Anh (2016) (ii) Các điều kiện nhu cầu: bao gồm các nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng ở thị trường nội địa và ở thị trường nước ngoài về sản phẩm, dịch vụ của ngành. Nhìn chung, cầu thị trường càng đa dạng, càng phức tạp sẽ tạo áp lực cho doanh nghiệp phải liên tục đổi mới nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường, khi đó sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành. (iii) Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp: Các điều kiện của quốc gia có tác động trực tiếp tới việc hình thành và hoạt động của doanh nghiệp.
Quá trình vận hành và quản lý doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý, mối quan hệ giữa công nhân và chủ doanh nghiệp, các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- chuẩn mực về hành vi và thái độ. Bên cạnh đó, vận hành của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào mục tiêu và kỳ vọng của doanh nghiệp cũng như sức ép cạnh tranh tại thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu. Các sức ép này đ i hỏi doanh nghiệp phải đổi mới, nhằm đáp ứng với các yêu cầu của thị trường. (iv) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan: Để một ngành phát triển cần có hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ, bao gồm: Thứ nhất là các ngành công nghiệp đầu vào: cần đảm bảo nguồn cung hiệu quả, tiếp cận nhanh với các thông tin về thị trường, sản phẩm, với các kiến thức mới và các ý tưởng mới.
Thứ hai là các ngành công nghiệp có liên quan: cần phát triển để đảm bảo các ngành kết nối với nhau, chia sẻ các hoạt động với nhau khi cùng tham gia vào chuỗi giá trị trong môi trường cạnh tranh. (v) Vai trò của Chính phủ: bao gồm các cơ chế, chính sách, hoặc loại bỏ các cơ chế chính sách có tác động đến bốn hợp phần cơ bản nêu trên, bao gồm: chính sách tác động đến các điều kiện nhân tố đầu vào; chính sách tác động đến cầu tiêu thụ sản phẩm; chính sách có thể tác động đến các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan, thông qua việc hình thành, nuôi dưỡng và thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển; và cuối cùng là chính sách có thể tác động trực tiếp đến việc hình thành, vận hành và quản lý của doanh nghiệp. Tổng quan các nghiên cứu trước Ngành chế biến gỗ cao su có tiềm năng tăng trưởng lớn, ngày càng có vai trò quan trọng trong ngành chế biến gỗ Việt Nam, tuy nhiên cụm ngành này chưa được sự quan tâm đúng mức của giới nghiên cứu. Bằng chứng là các công trình nghiên cứu có liên quan đến cụm ngành chế biến gỗ cao su ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Đến thời điểm thực hiện nghiên cứu này, tác giả chỉ thu thập được một số nghiên cứu từ một số ít nhà nghiên cứu nước ngoài. Hong (1996), “Rubberwood Utilization: A Success Story” nói về sự đầu tư phát triển công nghệ xử lý và chế biến gỗ cao su của Chính phủ và các viện nghiên cứu đã giúp hình thành và phát triển cụm ngành chế biến gỗ cao su ở Malaysia. Việc sử dụng gỗ cao su thực sự là một câu chuyện thành công đối với Malaysia - từ một loại gỗ ít có giá trị về mặt kinh tế trong những năm 1980, nhờ có sự phát triển của công nghệ xử lý và chế biến, gỗ cao su hiện nay là một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu và sản xuất các sản phẩm như ván MDF, ván dăm, ván ép. Hơn nữa, ngành gỗ cao su ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến gỗ Malaysia.
Nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- cũng khẳng định, sự thành công trong việc chế biến gỗ cao su ở Malaysia đã dẫn đến sự phát triển của các ngành công nghiệp tương tự ở các nước láng giềng của Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia. Zachariah (2008), “Rubber wood industry in Kerala - A value chain analysis” đánh giá hiệu suất của ngành công nghiệp gỗ cao su ở Kerala (Ấn Độ) dựa trên khung phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky. Nghiên cứu phát hiện ra rằng lợi nhuận trong ngành chủ yếu thuộc về các nhà sản xuất và sẽ tăng lên khi sản phẩm được chế biến sâu. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng vì nó cho thấy một chính sách khuyến khích ở khâu sản xuất sản phẩm gỗ cao su tinh chế sẽ tạo ra nhiều việc làm và liên kết chặt chẽ hơn trong ngành.
Kinh nghiệm phát triển cụm ngành chế biến gỗ cao su Malaysia Malaysia hiện là nước có diện tích trồng cây cao su lớn thứ ba thế giới, sau Thái Lan và Indonesia. Vào cuối những năm 1970, việc sử dụng gỗ cao su để sản xuất sản phẩm gỗ đã bắt đầu ở Malaysia. Theo Hong (1996), Malaysia không phải là nước đầu tiên sử dụng gỗ cao su làm gỗ nguyên liệu trong chế biến gỗ, tuy nhiên Malaysia mới là nước tiên phong và thành công nhất trong ngành chế biến gỗ cao su. Đến nay, Malaysia đã trở thành trung tâm (và là mô hình) về chế biến và sử dụng gỗ cao su trên thế giới.1: Giá trị xuất khẩu gỗ cao su và cao su thiên nhiên của Maylaysia Xuất khẩu sản Xuất khẩu gỗ Tổng giá trị xuất Tổng giá trị xuất Thanh Gỗ tròn Năm phẩm gỗ cao cao su nguyên khẩu gỗ cao xu khẩu cao su thiên lý (ha) (triệu m3) su (tỷ USD) liệu (tỷ USD) (tỷ USD) nhiên (tỷ USD) 2010 33.964 7,32 4,31 1,95 6,25 1,27 Tỷ trọng 2015 78,4% 21,6% Nguồn: M.
Karim, 2016, trích trong Hiệp hội cao su Việt Nam (2017) Theo Hiệp hội cao su Việt Nam (2017), từ năm 2012 - 2015, giá cao su thiên nhiên của Malaysia sụt giảm mạnh, làm giá trị xuất khẩu cao su thiên nhiên giảm bình quân khoảng 11,7%/năm. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu gỗ cao su và sản phẩm gỗ cao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- su gia tăng liên tục với mức tăng bình quân khoảng 5%/năm và chiếm tỷ trọng 78,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 của toàn ngành cao su Malaysia.2: Thị trường xuất khẩu gỗ cao su của Maylaysia năm 2015 STT Thị trường xuất khẩu gỗ cao su Giá trị xuất khẩu (tỷ USD) Tỷ trọng (%) 1 Hoa Kỳ 3,06 49,0 2 Úc 0,74 11,8 3 Nhật Bản 0,67 10,7 4 Singapore 0,55 8,8 5 Anh Quốc 0,53 8,5 6 Canada 0,43 6,9 7 Các nước khác 0,27 4,3 Tổng cộng 6,25 100,0 Nguồn: M. Karim, 2016, trích trong Hiệp hội cao su Việt Nam (2017) Ngành công nghiệp chế biến gỗ cao su ở Malaysia phát triển bởi những yếu tố sau: (i) Các điều kiện nhân tố đầu vào: Malaysia có diện tích trồng cao su lớn, đứng thứ ba thế giới, đồng thời diện tích cây cao su thanh lý để tái canh hàng năm lớn đã cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ cao su dồi dào cho các doanh nghiệp chế biến gỗ nội địa. Tuy nhiên, những năm gần đây, Malaysia có hiện tượng thiếu hụt nguồn lao động, người dân Malaysia có xu hướng chuyển sang canh tác cọ dầu - là ngành nông nghiệp ít thâm dụng lao động hơn.