Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ của Lê Bình Dương, bảo vệ năm 2019 tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán (mã số 9.11), hướng dẫn bởi TS. Phan Thị Luyến và TS. Trần Luận. Luận án tiếp cận theo hướng hỗn hợp: kết hợp nghiên cứu lí luận, điều tra thực trạng định tính-định lượng và thực nghiệm sư phạm có đối chứng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tác giả xác định hai lớp lí do cấp thiết. Thứ nhất, bối cảnh chính sách: Nghị quyết của Đảng về đổi mới giáo dục đại học nhấn mạnh "phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học"; Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTƯ về công tác giáo dục-đào tạo trong quân đội yêu cầu "phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và bồi dưỡng năng lực tư duy, rèn luyện năng lực hoạt động thực tiễn cho người học". Thứ hai, thực tiễn nhà trường quân đội: nhiều học viên còn thụ động, học cầm chừng, học thuộc mà không hiểu bản chất, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn còn yếu; sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.

Về nội dung môn học, xác suất thống kê (XSTK) có tính ứng dụng cao trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh tế, quân sự, y học, đồng thời là lĩnh vực giải quyết vấn đề (GQVĐ), tạo nhiều cơ hội phát triển kỹ năng siêu nhận thức (KN SNT). Tuy nhiên, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) môn XSTK tại các trường đại học trong quân đội còn bất cập; người học chưa thấy ý nghĩa của môn học với chuyên môn nghiệp vụ và chưa có định hướng học tập hợp lí.

Mục tiêu và giả thuyết khoa học

Mục đích nghiên cứu là đề xuất một số biện pháp dạy học môn XSTK theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT cho học viên (HV) ở một số trường đại học trong quân đội (QĐ).

Giả thuyết khoa học: Nếu đề xuất được các biện pháp dạy học môn XSTK theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT cho HV ở các trường đại học trong QĐ một cách phù hợp, thì không những làm cho HV hiểu rõ hơn các tri thức môn học, mà còn rèn luyện được các KN dự đoán, lập kế hoạch, giám sát, đánh giá rất cần thiết cho HV.

Các câu hỏi nghiên cứu tác giả đặt ra gồm: (1) Quan niệm về SNT, KN SNT như thế nào? Chân dung HV có SNT là gì? (2) Dạy học XSTK theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT cho HV được quan niệm như thế nào? Quy trình và cách thức tổ chức là gì? (3) Thực trạng, nhu cầu dạy học XSTK theo hướng rèn luyện KN SNT ở các trường đại học trong QĐ ra sao? Cơ hội phát triển SNT cho HV qua môn XSTK có không? (4) Có thể đề xuất một số biện pháp dạy học môn XSTK theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT cho HV? (5) Những biện pháp đề xuất có khả thi và hiệu quả không?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học XSTK ở trường đại học trong QĐ.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp dạy học môn XSTK cho HV các trường đại học trong QĐ theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT.
  • Phạm vi không gian: Một số trường đại học trong quân đội (cụ thể có đề cập đến Trường Đại học Chính trị, Đoàn 871 – TCCT).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và thực nghiệm tiến hành đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Tác giả tổ chức tổng quan theo ba nhóm:

Nhóm 1 – Lịch sử và lí thuyết siêu nhận thức quốc tế. Tác giả truy nguyên nền tảng tâm lí học từ L. Vygotsky (1896–1934), người không dùng khái niệm SNT nhưng đặt cơ sở thông qua lí luận về "phát triển nhân tạo" và sự chiếm lĩnh có ý thức các quá trình nhận thức. Tiếp nối là Galperin (1902–1988) với lí thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn và phát hiện về "đối tượng để suy nghĩ – ý nghĩ về đối tượng đó". Flavell (1976, 1979) được coi là người sáng lập thuật ngữ "siêu nhận thức", phân chia SNT thành kiến thức SNT, giám sát và điều chỉnh tích cực các quá trình nhận thức. Brown (1978) bổ sung hai thành phần: kiến thức về nhận thức và sự điều chỉnh nhận thức. Các nhà nghiên cứu tiếp theo được tác giả điểm tên gồm: Kluwe (1982), Kurtz và Borkowski (1984), Wellman (1985), Paris và Winograd (1990), Ertmer và Newby (1996), Schoenfeld (1992), Bandura (1986), Bransford và cộng sự (1986), Borkowski và cộng sự (1987), Garner (1990), Schunk (1990), Kuhn và cộng sự (1997), Cromley (2000), Daley (2002), Hofer & Yu (2003), Sperling và cộng sự (2004), Israel (2007), Schneider và Pressley (1997), Desoete (2007), Tobias và Everson, Wilson, Van der Stel, Veenman, Fogarty, Larkin (2010). Theo phân kì của Larkin (2010), nghiên cứu SNT có hai giai đoạn: giai đoạn đầu từ tâm lí xã hội (dựa trên nghiên cứu Vygotsky) và giai đoạn từ những năm 1970 tập trung vào xử lí thông tin và nhận thức.

Nhóm 2 – Nghiên cứu về SNT và dạy học XSTK quốc tế. Shaughnessy (1992) cho rằng giảng dạy GQVĐ thành công đòi hỏi nhận thức của học sinh về suy nghĩ của mình và gợi ý tự giám sát nên là ưu tiên của giảng viên. Teri Rysz (2004) sử dụng phương pháp định tính, phỏng vấn 7 sinh viên trong lớp học XSTK cơ sở về các chiến lược họ dùng khi học và kiểm tra; kết quả cho thấy sinh viên có kết quả thấp dùng hạn chế hoặc không dùng chiến lược SNT, trong khi sinh viên dùng chiến lược SNT rõ ràng hiểu khái niệm XSTK tốt hơn. Đây là công trình quốc tế duy nhất mà tác giả luận án xác định trực tiếp kết hợp SNT với XSTK.

Nhóm 3 – Nghiên cứu trong nước về SNT và XSTK. Về SNT: Phạm Thành Nghị đề cập khái niệm SNT dưới thuật ngữ "tự nhận thức" hay "tư duy về tư duy"; Hồ Thị Hương hệ thống các mô hình SNT và làm nổi bật chức năng trong dạy học; Trần Thị Lan Anh, Nguyễn Thành Đức, Trịnh Hồng Tính nghiên cứu SNT trong dạy học Anh văn; Nguyễn Văn Thanh ứng dụng SNT trong dạy toán tỉ lệ thức lớp 7; Nguyễn Thị Hương Lan giới thiệu nghiên cứu về SNT trong dạy học toán; Lê Trung Tín xác định chức năng SNT trong dạy học toán trường phổ thông; Cao Thị Hà và Nguyễn Văn Thanh tập trung vào các thành tố cơ bản của SNT và khả năng vận dụng vào dạy học toán; Hoàng Thị Tuyết nghiên cứu trong dạy học tiểu học. Công trình gần nhất và được so sánh trực tiếp là của Hoàng Xuân Bính (bảo vệ tháng 4/2019) về bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ qua dạy học hình học không gian tại trường trung học phổ thông, dựa trên quan niệm SNT theo Flavell. Về XSTK trong nước: luận án của Phan Thị Tình (vận dụng toán học vào thực tiễn cho sinh viên sư phạm), Tạ Hữu Hiếu (tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên thể dục thể thao), Trần Thị Hoàng Yến (dạy học dự án cho sinh viên kinh tế, kĩ thuật), Hoàng Nam Hải (phát triển năng lực suy luận thống kê), Nguyễn Thị Hà (XSTK theo hướng tăng cường vận dụng toán học vào thực tiễn cho khối kinh tế, kĩ thuật), Đào Hồng Nam (XSTK ở trường Đại học Y), Võ Thị Huyền (dạy học thống kê tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống việc rèn luyện KN SNT trong dạy học XSTK cho HV các trường đại học trong QĐ. Luận án này khác với công trình của Hoàng Xuân Bính ở ba điểm: (1) dùng quan niệm SNT theo Brown thay vì Flavell; (2) đối tượng là HV đại học quân đội, không phải học sinh trung học phổ thông; (3) môn học là XSTK, không phải hình học không gian, và xác định rõ cơ hội phát triển SNT thông qua môn XSTK.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lí thuyết

Luận án thống nhất quan niệm SNT theo Brown: SNT bao gồm kiến thức về nhận thức và sự điều chỉnh nhận thức. Kiến thức về nhận thức gồm ba loại: kiến thức khai báo ("biết cái gì"), kiến thức thủ tục ("biết làm như thế nào") và kiến thức điều kiện ("biết khi nào"). Sự điều chỉnh nhận thức gồm ba thành phần: lập kế hoạch, giám sát và đánh giá.

Bốn KN SNT được xác định là trọng tâm rèn luyện, dựa trên phân chia của Brown và Desoete: (1) dự đoán – định hướng ban đầu về nhiệm vụ; (2) lập kế hoạch – thiết kế chuỗi hành động hướng tới mục tiêu; (3) giám sát – kiểm soát quá trình thực hiện và điều chỉnh sai lệch; (4) đánh giá – phản ánh sau hoạt động về kết quả và phương pháp.

Luận án sử dụng mô hình GQVĐ bốn giai đoạn của Polya và mô hình vòng tròn của Fernandez, Hadaway và Wilson (trong đó giai đoạn "xem lại" và quá trình quản lý tương ứng với hoạt động SNT theo Schoenfeld và Flavell) làm cơ sở xây dựng chiến lược giải quyết nhiệm vụ học tập gắn với KN SNT. Các mô hình SNT của Tobias và Everson (phân cấp, lấy giám sát hiểu biết làm nền tảng) và Wilson cũng được tham chiếu trong phân tích.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng bốn nhóm phương pháp:

  • Nghiên cứu lí luận: Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận.
  • Điều tra thực tiễn: Phỏng vấn, quan sát và phiếu điều tra để khảo sát thực trạng dạy học XSTK tại một số trường đại học trong QĐ; đối tượng khảo sát gồm giảng viên (GV), cán bộ quản lí HV và HV.
  • Thống kê toán học: Xử lí số liệu thu thập từ điều tra và thực nghiệm sư phạm; kiểm định Mann-Whitney được sử dụng trong so sánh kết quả hai nhóm thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC).
  • Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức hai vòng thực nghiệm tại một số trường đại học trong QĐ với nhóm TN và nhóm ĐC để kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
  • Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về các vấn đề thuộc phạm vi đề tài.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tài liệu khoa học tiếng Việt và tiếng nước ngoài về SNT, KN SNT, dạy học toán và XSTK.
  • Phiếu khảo sát ý kiến GV, cán bộ quản lí và HV tại các trường đại học trong QĐ.
  • Bộ dữ liệu điểm kiểm tra chất lượng của nhóm TN và ĐC qua hai vòng thực nghiệm, bao gồm điểm dự đoán, điểm đánh giá và điểm khảo sát.
  • Các thang phân loại giá trị điểm của Gama và thang do tác giả xây dựng trên cơ sở thang của Gama.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 1 xây dựng toàn bộ khung lí luận của luận án theo hai trục chính: lí thuyết SNT và thực trạng dạy học XSTK ở các trường đại học trong QĐ.

Về SNT và KN SNT, tác giả trình bày lịch sử hình thành khái niệm từ Vygotsky, Galperin đến Flavell và Brown; phân tích chi tiết bốn mô hình SNT (Flavell, Brown, Tobias–Everson, Wilson) trước khi thống nhất chọn quan niệm của Brown làm nền tảng. Bốn KN SNT được mô tả cụ thể qua bảng mô tả các kĩ năng SNT, trong đó mỗi kĩ năng được triển khai thành các hoạt động cụ thể và các KN thành phần. Ví dụ: KN dự đoán gồm các KN thành phần như định hướng, diễn giải, kết nối thông tin, liên kết vấn đề, phân tích bài toán và ước lượng. Chương này cũng xây dựng bảng phân biệt nhận thức (NT) và SNT theo bốn chiều: quan điểm, mục tiêu, đối tượng và chức năng.

Về cơ hội rèn luyện KN SNT trong dạy học XSTK, tác giả lập luận rằng vì XSTK gắn chặt với thực tiễn, là lĩnh vực GQVĐ, mọi quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập đều có khả năng phát triển KN SNT. Hai ví dụ minh họa bằng bài toán thực tế quân sự (bài toán bắn tên lửa vào máy bay B-52 tính xác suất máy bay rơi và bài toán hai xạ thủ bắn vào bia) được triển khai toàn bộ qua bốn giai đoạn dự đoán, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá, làm rõ từng bước hoạt động SNT trong quá trình giải toán.

Về thực trạng, khảo sát bằng phiếu điều tra với ba nhóm (GV, cán bộ quản lí HV, HV) tại một số trường đại học trong QĐ. Kết quả được trình bày qua nhiều bảng số liệu về: ý kiến của GV về việc rèn luyện KN cho HV; các KN GV thường rèn luyện; các KN có vai trò đối với nghề nghiệp của HV; các ý kiến tương ứng từ phía cán bộ quản lí và HV. Kết quả khảo sát xác nhận thực trạng bất cập trong nội dung và PPDH XSTK, đồng thời cho thấy nhu cầu phát triển KN SNT tại các trường này.

Chương 2: Một số biện pháp dạy học XSTK ở trường đại học trong quân đội theo hướng tăng cường rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học viên

Chương 2 đề xuất năm biện pháp sư phạm, được xây dựng trên cơ sở các định hướng chung. Mỗi biện pháp gắn với một hoặc nhiều KN SNT cụ thể và được minh họa bằng tình huống dạy học nội dung XSTK.

Biện pháp Nội dung trọng tâm KN SNT hướng tới
Biện pháp 1 Rèn luyện KN dự đoán, lập kế hoạch thông qua hoạt động tìm hiểu vấn đề, chuyển đổi ngôn ngữ, liên tưởng và huy động kiến thức đã có để giải quyết nhiệm vụ Dự đoán, lập kế hoạch
Biện pháp 2 Đặt câu hỏi định hướng góp phần rèn luyện các KN SNT trong dạy học môn XSTK Dự đoán, lập kế hoạch, giám sát, đánh giá
Biện pháp 3 Rèn luyện KN SNT thông qua hoạt động giải quyết nhiệm vụ học tập trong dạy học môn XSTK Dự đoán, lập kế hoạch, giám sát, đánh giá
Biện pháp 4 Thiết kế và tổ chức dạy học một số tình huống sai lầm để rèn khả năng giám sát và đánh giá Giám sát, đánh giá
Biện pháp 5 Sử dụng hình thức dạy học theo dự án tạo cơ hội HV thực hiện dự đoán, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá khi vận dụng kiến thức XSTK vào giải quyết nhiệm vụ thực tế Dự đoán, lập kế hoạch, giám sát, đánh giá

Chương này cũng trình bày quy trình tổ chức dạy học theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT cho HV, bao gồm bảng kế hoạch công việc, sơ đồ công việc và phân công nhiệm vụ (trong bối cảnh dạy học dự án).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm được tổ chức theo hai vòng tại một số trường đại học trong QĐ, với thiết kế đối chứng (nhóm TN – nhóm ĐC).

Vòng 1 thu thập số liệu điểm kiểm tra chất lượng trước và sau thực nghiệm của nhóm TN và ĐC, trình bày qua bảng phân phối tần số điểm kiểm tra chất lượng (X) trước TN và sau TN vòng 1.

Vòng 2 mở rộng phạm vi đo lường, bổ sung đánh giá KN SNT thông qua ba chỉ số riêng: điểm dự đoán trung bình, điểm đánh giá trung bình và điểm khảo sát trung bình của lớp TN và ĐC. Kết quả được kiểm định bằng tiêu chuẩn Mann-Whitney; bảng xếp hạng điểm kiểm tra sau hai vòng và bảng kết quả TN hai vòng theo tiêu chuẩn Mann-Whitney được trình bày để minh chứng tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất. Thang phân loại giá trị điểm của Gama được dùng để đánh giá mức độ KN SNT của HV, kết hợp với thang phân loại do tác giả xây dựng dựa trên thang của Gama. Kết quả thực nghiệm bao gồm cả biểu đồ cột so sánh trước và sau TN vòng 1, vòng 2 theo các chỉ số nêu trên.


Kết quả và những đóng góp mới

Theo tác giả trình bày trong luận án, các đóng góp mới gồm:

  1. Về lí luận: Hệ thống hóa các quan niệm về SNT và KN SNT; làm rõ các thành phần KN SNT cụ thể (dự đoán, lập kế hoạch, giám sát, đánh giá); phân biệt giữa NT và SNT ở một số khía cạnh; làm rõ một số biểu hiện của HV có KN SNT trong học tập và trong công tác.

  2. Về quan niệm và quy trình dạy học: Đưa ra quan niệm dạy học theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT; xây dựng quy trình và cách tổ chức dạy học toán theo hướng này cho HV các trường đại học trong QĐ.

  3. Về thực tiễn nhà trường quân đội: Phân tích thực trạng dạy học XSTK ở một số trường đại học trong QĐ; làm rõ nhu cầu phát triển KN SNT và xác định cơ hội rèn luyện KN SNT cho HV trong dạy học XSTK.

  4. Về biện pháp sư phạm: Đề xuất năm biện pháp sư phạm trong dạy học XSTK ở một số trường đại học trong QĐ theo hướng tăng cường rèn luyện KN SNT cho HV; bước đầu chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp thông qua thực nghiệm sư phạm hai vòng.

Luận án không nêu danh sách giải pháp kiến nghị độc lập tách khỏi các biện pháp trên. Tác giả xác định luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho GV giảng dạy môn XSTK ở các trường đại học trong QĐ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản không dành một mục riêng để tổng kết hạn chế của nghiên cứu. Tuy nhiên, từ phạm vi đã trình bày, có thể nhận thấy một số giới hạn nội tại: thực nghiệm được thực hiện tại một số (không phải toàn bộ) trường đại học trong QĐ, do đó khả năng khái quát hóa kết quả còn hạn chế. Bản thân tác giả trong lời cảm ơn thừa nhận "bản luận án chắc chắn còn thiếu sót" do điều kiện chủ quan và khách quan. Ngoài ra, SNT là hoạt động khó đo lường và nhận biết – điều tác giả thừa nhận trong luận án; các công cụ đo lường KN SNT (thông qua điểm dự đoán, điểm đánh giá, điểm khảo sát) là bước đầu thử nghiệm, chưa được kiểm định độ tin cậy và hiệu lực trong điều kiện rộng hơn. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang các môn toán khác trong chương trình đại học quân đội, hoặc mở rộng mẫu thực nghiệm ra nhiều trường hơn để kiểm định mức độ tổng quát của các biện pháp đề xuất.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Giảng viên toán tại các trường đại học trong quân đội – đây là nhóm đối tượng tác giả xác định trực tiếp; các biện pháp sư phạm và hệ thống tình huống minh họa trong chương 2 có thể sử dụng trực tiếp trong thiết kế bài giảng XSTK.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán – phần hệ thống hóa lí luận về SNT ở chương 1 và phần so sánh các mô hình SNT (Flavell, Brown, Tobias–Everson) cung cấp tổng quan có chú thích nguồn rõ ràng.
  • Nhà nghiên cứu quan tâm đến dạy học xác suất thống kê – phần xác định cơ hội rèn luyện KN SNT qua nội dung XSTK và phần ví dụ minh họa bài toán thực tiễn quân sự trong khung SNT là tư liệu ít thấy trong tài liệu tiếng Việt.
  • Nhà quản lí giáo dục trong quân đội – số liệu khảo sát thực trạng và kết quả thực nghiệm hai vòng cung cấp căn cứ thực tiễn cho quyết định đổi mới PPDH môn XSTK.

Phần đáng tham khảo nhất về phương diện học thuật là bảng mô tả chi tiết bốn KN SNT với các hoạt động cụ thể (chương 1), bảng phân biệt NT và SNT, và phần triển khai hai bài toán xác suất hoàn chỉnh theo khung SNT bốn giai đoạn.


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chọn quan niệm SNT của tác giả nào và vì sao khác với công trình của Hoàng Xuân Bính?

Luận án thống nhất quan niệm SNT theo Brown: SNT bao gồm kiến thức về nhận thức (khai báo, thủ tục, điều kiện) và sự điều chỉnh nhận thức (lập kế hoạch, giám sát, đánh giá). Công trình của Hoàng Xuân Bính (bảo vệ tháng 4/2019) dùng quan niệm SNT theo Flavell và không nói rõ KN SNT hiểu theo quan điểm nào; đối tượng là học sinh trường trung học phổ thông, môn học là hình học không gian, trọng tâm là bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ. Luận án Lê Bình Dương nhắm vào HV đại học trong QĐ, môn XSTK, và xác định rõ cơ hội rèn luyện KN SNT thông qua nội dung XSTK.

2. Bốn kỹ năng SNT được rèn luyện là gì và mỗi kĩ năng gồm những KN thành phần nào?

Bốn KN SNT được xác định theo Brown và Desoete gồm: (1) Dự đoán – gồm các KN định hướng, diễn giải, kết nối thông tin, liên kết vấn đề, phân tích bài toán, ước lượng; (2) Lập kế hoạch – gồm KN xác định mục tiêu, phân chia, lựa chọn chiến lược GQNV, lựa chọn tri thức phương pháp, lựa chọn kiến thức tiền đề, sắp xếp; (3) Giám sát – gồm KN phát hiện vấn đề, nhận biết, so sánh đối chiếu, giám sát quá trình GQNV, theo dõi và đưa ra phương pháp giải quyết phù hợp; (4) Đánh giá – gồm KN duyệt lại các bước lập luận, xem xét các cách GQNV, lựa chọn cách GQNV tối ưu, phát hiện và sửa chữa sai lầm, phản ánh kết quả, tổng hợp và khái quát.

3. Thực nghiệm sư phạm được tổ chức như thế nào và dùng phương pháp thống kê nào để kiểm định?

Thực nghiệm được tổ chức hai vòng tại một số trường đại học trong QĐ theo thiết kế nhóm TN và nhóm ĐC. Vòng 1 đo kết quả qua điểm kiểm tra chất lượng trước và sau TN. Vòng 2 bổ sung ba chỉ số đo KN SNT: điểm dự đoán trung bình, điểm đánh giá trung bình và điểm khảo sát trung bình của lớp TN và ĐC. Kết quả được kiểm định bằng tiêu chuẩn Mann-Whitney, với bảng xếp hạng điểm kiểm tra sau hai vòng và bảng kết quả TN hai vòng theo tiêu chuẩn này. Thang phân loại giá trị điểm của Gama được dùng để đánh giá mức độ KN SNT của HV.

4. Tại sao môn XSTK được coi là phương tiện phù hợp để rèn luyện KN SNT?

Tác giả dẫn lập luận từ Shaughnessy và Teri Rysz: XSTK là lĩnh vực GQVĐ, các khái niệm và vấn đề luôn nảy sinh từ thực tiễn, đòi hỏi người học xử lí đồng thời nhiều khái niệm phức tạp và không được xác định rõ ràng. Shaughnessy cho rằng tự giám sát và điều chỉnh nên là ưu tiên của GV dạy XSTK. Teri Rysz khẳng định SNT là yếu tố cần thiết cho sự thành công trong các khóa học XSTK cơ bản. Vì mọi quá trình GQNV học tập đều tiềm ẩn khả năng phát triển KN SNT, và XSTK gắn chặt với thực tiễn, môn học này được xác định là phương tiện chuyển tải phù hợp để rèn luyện KN SNT cho HV.

5. Nghiên cứu quốc tế nào trực tiếp kết hợp SNT với dạy học XSTK trước luận án này?

Công trình quốc tế duy nhất được tác giả xác định là của Teri Rysz (2004), sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phỏng vấn 7 sinh viên trong lớp học XSTK cơ sở về các chiến lược họ dùng khi học và kiểm tra. Kết quả cho thấy sinh viên có kết quả thấp dùng hạn chế hoặc không dùng chiến lược SNT; những sinh viên dùng chiến lược SNT rõ ràng hiểu khái niệm XSTK tốt hơn. Trong nước, chưa có công trình nào đề cập có hệ thống đến việc rèn luyện KN SNT trong dạy học XSTK cho HV các trường đại học trong QĐ trước luận án này.


Kết luận

Luận án của Lê Bình Dương (2019) xây dựng cơ sở lí luận về SNT và KN SNT dựa trên quan niệm của Brown, xác định bốn KN SNT cốt lõi (dự đoán, lập kế hoạch, giám sát, đánh giá) và lí giải rằng môn XSTK là môi trường phù hợp để rèn luyện các KN này cho HV đại học trong QĐ. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất năm biện pháp sư phạm cụ thể, trong đó có dạy học dự án và tổ chức tình huống sai lầm, nhằm tích hợp rèn luyện KN SNT vào quá trình dạy học nội dung XSTK. Tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp được kiểm định qua thực nghiệm sư phạm hai vòng có nhóm đối chứng, với phân tích số liệu bằng tiêu chuẩn Mann-Whitney. Đây là nghiên cứu có hệ thống đầu tiên trong nước về chủ đề kết hợp rèn luyện KN SNT với dạy học XSTK ở đối tượng HV các trường đại học trong quân đội Việt Nam.