Chương 1: Mo dau. Giới thiệu chung về dé tài, mục tiêu và ý nghĩa nghiên cứu Chương 2: Tông quan. Giới thiệu về vật liệu FRP và các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan dén dé tai. Chương 3: Cơ sở lý thuyết.
Trình bày chỉ tiết lý thuyết tính toán để xác định quan hệ mô men — độ cong của vật liệu BTCT có và không gia cường FRP. Mô hình hư hại tích lũy cũng được trình bày trong chương này. Chương 4: Mô hình phân tích Giới thiệu mô hình khung 3 tầng và 8 tầng dùng trong phân tích số và kiểm tra tinh đúng dan của phương pháp. Chương 5: Phân tích kết quả Từ kết quả co sở lý thuyết, khả năng chịu động đất của khung 8 tang được phân tích.
Thông qua chỉ số hư hại DI để đánh giá hư hại của khung BTCT có và không có gia cường FRP. Chương 6: Kết luận và kiến nghị Kết luận và kiến nghị dựa trên cơ sở những kết quả phân tích thu được. Chương 2 TONG QUAN 2.1 Sơ lược về vật liệu FRP 2.1 Cấu tạo vật liệu FRP Vật liệu FRP là một loại vật liệu composite được chế tạo từ các vật liệu sợi, sử dụng các chất kết dính để liên kết với các cau kiện. Trong đó các sợi đóng vai trò chịu lực chủ yếu.
Chất kết dính như nhựa Expoxy, nhựa Vinyl esters và nhựa Polyesters đóng vai trò liên kết giữ 6n định cho các sợi va phân phối tải trọng cho các sợi làm việc cùng nhau. Kiểu vật liệu sợi thường được sử dụng là sợi thủy tinh (GFRP), sợi các bon (CFRP) và sợi aramid (AFRP). a) Soi thuy tinh (Glass fiber) Là loại sợi được chế tạo từ dung dịch thủy tinh long nung nóng đến nhiệt độ khoảng 1600°C, dung dịch thủy tinh có thành phan từ cát, kaolin, limeston.Sau khi thôi dung dịch thủy tinh nóng chảy qua những 16 nhỏ trên khuôn làm bang bạch kim và làm nguội cho đến khi tạo thành các sợi nhỏ, mảnh. Những sợi thủy tỉnh này sau đó được làm sạch và phủ lớp chất hóa học dé bảo vệ.
Sau đó người fa mang những sợi thủy tỉnh nhỏ mảnh này se xoắn thành những sợi chỉ và lại dệt những sợi chỉ nay với nhau thành những tam vai sợi thủy tinh. Soi thủy tinh có giá thành thấp hơn sợi cacbon và cường độ kéo cũng thấp hơn nhưng van được sử dụng trong vai trường hop cho cau kiện muốn tăng độ dẻo. b) Soi cacbon (Cacbon fiber) La mot san pham của quá trình các bon hóa, một loại sợi tiền ché từ các cao phân tử polymer nhân tạo. Các sợi tiền chế được kéo qua trong lò khí trơ có nhiệt độ khoảng 2000°C.
Tùy theo nhiệt độ và lực kéo căng khi gia công mà sẽ quyết định cường độ và độ cứng của sợi. Với nhiệt độ cao trong lò, các tạp chất sẽ bị đốt cháy chỉ còn lại thuần túy các bon, những sợi này sau đó sẽ được làm sạch và phủ lớp hóa chất để bảo vệ. Sau đó đem đi se xoắn tạo thành những sợi chỉ và dệt thành những tam vải. Soi các bon rat mảnh, vì vậy với mỗi tam các bon chỉ có chiêu dày khoảng 0.
Soi các bon sau khi được tâm nhựa đường thì có cường độ kéo rất cao, có thể cao hơn thép từ 5 đến 10 lần. c) Soi Aramid (Aramid fiber) Là một loại sợi cực kỳ bên chắc, được lam từ hợp chất cao phân tử aromatic polyamide. Mặc dù rất bền nhưng nó vẫn có vài nhược điểm khi gia cường sữa chửa cho kết cấu BTCT. Trước tiên, soi Aramid có tính hút 4m nên nó chi có thể làm việc ở môi trường khô ráo.
Hơn nữa, loại sợi này có tính tự mài mòn, đặc biệt dưới tải trọng lặp, các sợi này sẽ cọ sát vào nhau và bào mòn lẫn nhau, làm cho bản thân sợi càng nhỏ, mỏng va yếu đi. Mặc khác, sợi aramid rất khó cắt khi gia cường, buộc phải sử dụng các dụng cụ chuyên dụng. Tuy nhiên, nó sẽ phát huy tác dụng rất cao nêu như gia cường cho các kết câu có yêu cau chong nô, va đập. đ) Vat liệu nhựa kêt dinh Người ta thương dùng keo Expoxy là hợp chất của 2 polymer thành phần, mà trong quá trình lưu hóa và khô cứng thì chuỗi phân tử này càng cứng chắc.
Tùy theo yêu cầu sử dụng mà người ta chế tạo những loại keo có những đặc tính phù hợp. Có loại keo có cường độ cao, nhưng don, dé vở, độ bám dính thấp hoặ loại keo có cường độ kéo thấp nhưng cường độ bám dính lại cao. Thông thường trong lĩnh vực sử dụng FRP dé gia cường sữa chửa cho kết cấu, người ta chỉ quan tâm đến yếu tố bám dính của keo vì nó làm giúp FRP phát huy hết khả năng của vật liệu. Thành phan hóa học của keo Expoxy giúp cho nó không dễ bay hoi và không bắt lửa.
Trong qua trình chế tạo, keo Expoxy được làm trơ hóa, giúp cho nó dễ sử dụng sau này. e) Cac dạng FRP thưởng dùng ˆ- Dạng tắm Dạng cuộn Dạng chế tạo Dạng thanh Dạng băng sản Hình 2.1 Các dang vật liệu FRP [1]. Các dạng FRP thường dùng trong xây dựng như trong (Hình 2.1) bao gồm: FRP dạng tâm, thanh, cáp, cuộn. Trong sửa chữa và gia cố công trình thường có 2 dạng cơ bản: dạng chế tạo tại hiện trường thi công và dạng chế tạo sẵn trong nhà máy và sau đó được lắp ráp tại công trường.
Dạng vật liệu FRP chế tạo sẵn trong nhà máy có những kích thước và kiểu dáng đã được chuẩn hóa, nên có thể sản xuất hàng loạt, giúp tiết kiệm thời gian thi công trên công trường. Tuy nhiên nhược điểm của nó là khó thi công cho những kết cấu có kích thước đặc biệt, hoặc kết cầu có sự thay đôi kích thước hình dáng trên công trình. Dạng chế tao sẵn có thé là tam, thanh. có thể bố trí gia cường bên ngoài hay bên trong bê tông như cốt thép.
Dạng vật liệu FRP chế tạo tại công trường tốn nhiều thời gian hơn, vì phương pháp chế tạo tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thé trên công trình. Tuy nhiên nó có khả năng thích ứng tốt với những kết cau phức tap, có sự thay đổi hình dáng, vị trí, kích thước. Những loại sản phẩm FRP chế tạo tại công trường chỉ có thé gia cường bên ngoài bê tông như dán gia cường vào vùng chịu kéo.2 Tinh chất co ly của vat liệu FRP Vật liệu FRP có ứng xu đàn hồi, không có giai đoạn chảy dẻo trước khi bị phá hủy. Cường độ chịu kéo và độ dẻo dai của vật liệu phụ thuộc chủ yếu vào kiểu sợi, hướng sợi và chât lượng sợi.
Ưng xử kéo của vật liệu này được biêu diễn băng quan hệ ứng suất — biến dạng tuyến tính đến khi phá hoại. Cường độ kéo và độ cứng của vật liệu này phụ thuộc vào nhiều tham số. Vì các sợi trong vật liệu tong hop FRP là thành phan chiu luc chinh nén kiéu cét soi, chiéu sap xép của cốt sợi, lượng cốt sợi và phương pháp chế tạo cũng ảnh hưởng đến đặc tính của vật liệu này. Tính chất cơ lý của vật liệu FRP được thé hiện trong (Bảng 2.1 Tính chất cơ lý của vật liệu FRP [2].
„ Vật liệu TT Tính chất cơ lý GERP CFRP AFRP | Khối lượng riêng (T/m?) 1.5 Hệ số giãn nở vì nhiệt theo 2 ị 6 - 10 (-1)-0 (-6) — (-2) chiêu dọc (10°/°C) Hệ số giãn nở vì nhiệt theo 3 19—23 22 - 50 60 - 80 chiêu ngang (10°°/°C) 4 Môdun dan hồi (GPa) 20 - 40 100 — 140 48 — 68 5 Cường độ kéo (MPa) 520-1400 | 1020-2080 | 700-1720 6 Bién dang cuc han (%) 1.0 Do thành phan cấu tạo của FRP khác han so với cốt thép dẫn đến đặc tính co lý của FRP cũng khác biệt. FRP là vật liệu không đăng hướng, có trọng lượng riêng khá nhẹ so với thép, dễ bị phá hủy bởi các tỉa cực tím bên ngoài. Có hệ số giãn nở do nhiệt khác nhau theo phương dọc và phương ngang, phụ thuộc vào kiểu loại cốt sợi, vật liệu kết dính và tỉ lệ cốt sợi.1 cho ta thấy khả năng biến dạng của CFRP nhỏ hơn GFRP và AFRP nhưng cường độ kéo của CFRP rất lớn, nên nó rất tốt trong gia cường kháng uốn cho kết cấu. Nhìn chung, mô đun đàn hồi của FRP không cao, trong 3 loại thì GFRP có mô đun thấp nhất, sau đó đến AFRP rồi đến CFRP.
Tuy có cường độ chịu kéo cao, nhưng về mặt chịu nén, FRP khá thấp, với dạng sợi vải thì hầu như không có chiu nén, chi một số vật liệu FRP dạng thanh thì có chịu nén.2 Các dạng phá hoại và sự làm việc của FRP 2.1 Cac dạng pha hoại Cac dạng phá hoại sau đây can phải khảo sát đôi với mặt cat cau kiện cân được gia cường vật liệu FRP. - Su phá hoại của bê tông trong vùng nén trước khi cốt thép thường bị chảy đẻo. - Su chảy dẻo của cốt thép thường trong vùng chịu kéo sau khi xảy ra sự phá hoại của tam gia cường. - Su chảy dẻo của cốt thép trong vùng chịu kéo sau khi xảy ra sự phá hoại bê tông trong vùng chịu nén.
- Su bong tách của lớp bê tông bảo vệ. - Su bong tách của lớp gia cường khỏi bê tông. Sự phá hoại do nén của bê tông được giả định xảy ra nếu biến dạng nén trong bê tông đạt đến biến dạng cực hạn (ec = £ø). Sự phá hoại của lớp gia cường được giả định là xảy ra khi sự biến dạng của tâm gia cường đạt đến biến dạng trong thiết kế (e7 = ef) .2 Su lam viéc cua FRP Khi sử dụng tam FRP dé gia cường cho dâm ở vùng chịu kéo sẽ làm cho dam tăng khả năng chịu tải, mà không làm gia tăng độ võng.
Mặt khác, khi dùng tam FRP để gia cường cho vùng chịu kéo của bê tông sẽ làm hạn chế vết nứt của bê tong, tạo điều kiện cho BTCT làm việc cùng nhau tốt hơn, giúp cho cốt thép tiễn đến giới hạn dẻo trong khi bê tông chưa bị phá hoại. Trong kết cau cột BTCT thì cốt thép đóng vai trò chịu mô men uốn là chủ yếu. Đặc biệt khi cột chịu tải trọng động như động đất, 210 giat, xe x0. trong cột sẽ xuât hiện m6 men uôn một phía và nén một phía.
Vêt nut sẽ xuât hiện ở vùng chịu kéo của bê tông. khi có sự đối chiều của tải trọng thì phía chịu nén của cột lại phải chịu kéo và xuất hiện vết nứt. Như vậy, tiết diện cột càng lúc càng bị thu hẹp sau mỗi lần lặp của tải trọng.