CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẬN TẢI DẦU - KHÍ HÓA LỎNG VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VẬN TẢI DẦU - KHÍ HÓA LỎNG 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Có nhiều khái niệm về hoạt động kinh doanh, một số khái niệm về hoạt động kinh doanh được đề cập đến như sau: Theo Nguyễn Văn Công (2009, trang 5), có nêu khái niệm như sau: “Hoạt động kinh doanh là hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành nhằm mục đích sinh lợi.” Thêm vào đó, theo Bùi Văn Trường (2012, trang 2), thì: “Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi, nên doanh nghiệp thường phải lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu nhằm đạt được lợi nhuận cao. Hoạt động kinh doanh nói chung rất phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động sản xuất, hoạt động thương mại hay hoạt động đầu tư tài chính,…” Còn theo Bùi Xuân Phong (2007, trang 2), cũng có đưa ra khái niệm sau đây: “Hoạt động kinh doanh là hoạt động kinh tế, khi việc tổ chức hoạt động đó nhằm mục đích kiếm lợi nhuận.
Trong đó, hoạt động kinh tế được hiểu là những hoạt động có ý thức nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ đem lại lợi ích kinh tế nhất định”. Như vậy, đầu tiên hoạt động kinh doanh là hoạt động kinh tế của doanh nghiệp để sinh ra lợi nhuận tối ưu, dựa trên các phương án kinh doanh khác nhau. Khái niệm vận tải biển và kinh doanh vận tải biển Tại hội nghị tổng kết 13 năm thực hiện Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2018, và lấy ý kiến đóng góp để sửa đổi, bổ sung Bộ Luật, Bộ Giao thông Vận tải cho biết 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước được vận chuyển bằng đường biển. Như vậy, vận tải biển như đã đề cập đóng vai trò rất quan trọng với khối lượng vận chuyển lớn đáp ứng hầu hết nhu cầu vận chuyển trong vận tải nói chung và vận tải dầu – khí hóa lỏng nói riêng, một số khái niệm về vận tải biển được các tác giả đưa ra như sau: 14 Theo GFP - Global Facilitation Partnership for Transportation and Trade (2003) thì: “Vận tải biển là việc dùng phương tiện chuyên chở để chở hành khách, hàng hóa, sinh vật bằng đường biển.” Bên cạnh đó, Vương Toàn Thuyên (2001), thì: “Vận tải biển là một phương thức hoạt động vận tải dùng tàu thuyền (hoặc các phương thức hoạt động vận tải đường biển khác) để tiến hành việc chuyên chở hàng hóa, hành khách, hành lý trên các tuyến vận tải.” Và theo Nguyễn Hữu Hùng (2014, trang 9), đã định nghĩa: “Vận tải biển là một ngành công nghiệp dịch vụ đáp ứng nhu cầu vận tải của xã hội thông qua việc cung cấp dịch vụ vận chuyển từ cảng biển này đến cảng biển khác trong không gian và theo thời gian để nhận tiền công vận chuyển.” Như vậy, vận tải biển là ngành công nghiệp sử dụng phương thức vận tải là tàu biển để tiến hành chuyên chở hàng hóa, hành khách bằng đường biển và thu lại lợi nhuận từ hoạt động vận tải đó.
Từ định nghĩa hoạt động kinh doanh cũng như vận tải biển, ta rút ra được kinh doanh vận tải biển cũng là một trong những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quan điểm về hiệu quả kinh doanh vận tải biển của doanh nghiệp cũng phải dựa trên những quan điểm trên những quan điểm về hiệu quả kinh doanh nói chung. Hiệu quả kinh doanh vận tải biển thể hiện mức độ tiết kiệm chi phí vận tải và mức tăng kết quả thu được từ hoạt động vận tải đó. Nâng cao hoạt động kinh doanh vận tải biển đồng nghĩa với việc lựa chọn, cải thiện các phương án kinh doanh nằm nâng cao lợi nhuận tối ưu nhất. Khái quát về hoạt động vận tải dầu-khí hóa lỏng dầu-khí hóa lỏng 1.
Các yêu cầu về kĩ thuật vận tải dầu-khí hóa lỏng a. Phương tiện vận tải dầu-khí hóa lỏng 15 Để vận tải dầu-khí hóa lỏng đòi hỏi cần có các tàu chuyên dụng để chở gọi chung là tàu dầu (Tanker). Các tàu chở dầu gồm nhiều chủng loại và nhiều cỡ khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu hàng hóa, nhìn chung các tàu chở dầu có các loại sau: - Tàu chở dầu. - Tàu chở dầu khí hoá lỏng.
Yêu cầu đối với doanh nghiệp vận tải dầu – khí hóa lỏng quốc tế Trong quá trình hoạt động, theo ISM code và ISPS code về hoạt động quản lý doanh nghiệp phải thiết lập hoặc thuê tổ chức bộ máy và nhân lực như sau: - Về tổ chức bộ máy, gồm: Bộ phận quản lý an toàn theo quy định của Bộ luật quốc tế về quản lý an toàn (ISM Code), bộ phận quản lý an ninh hàng hải theo quy định của Bộ luật quốc tế về an ninh tàu biển và bến cảng (ISPS Code). - Về nhân lực: Người được giao phụ trách lĩnh vực quản lý an toàn, an ninh hàng hải phải được đào tạo, huấn luyện và được cấp chứng chỉ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Thuyền viên công tác tại trên tàu dầu –khí hóa lỏng đạt yêu cầu theo:Thông tư 37/2016/TT-BGTVT về: Tiêu chuẩn chuyên môn thuyền viên và Thông tư 22/2017/TT-BYT về: Quy định tiêu chuẩn sức khỏe của thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam và quy định về tiêu chuẩn thuyền viên STCW 1978 (International Convention on Standards of Training, Certification and Watchkeeping for Seafarers). Đặc điểm khai thác tàu dầu - khí hóa lỏng Đa số vận tải dầu - khí hóa lỏng thường hoạt động theo loại hình tàu chuyến do khối lượng hàng chuyên chở lớn nên là loại tàu hoạt động không theo tuyến cố định, không có lịch trình chạy tàu được công bố từ trước mà theo yêu cầu của người thuê tàu trên cơ sở của các loại hợp đồng thuê tàu chuyến.
Thời gian hàng hải an toàn Theo Vietshipyard (2019), Thời gian chuyến đi của mỗi tàu chuyến được xác định kể từ khi tàu kết thúc chuyến đi trước và bắt đầu tham gia thực hiện hợp đồng mới cho đến khi hoàn thành việc dỡ trả hàng tại cảng đích. Thời gian chuyến đi của 16 tàu dầu – khí hóa lỏng không cố định, phụ thuộc vào điều kiện hành hải, tốc độ của tàu, mức giải phóng tàu và thoả thuận về thời gian làm hàng giữa chủ tàu và người thuê tàu. Thời gian chuyến đi rút ngắn sẽ giảm được chi phí và đáp ứng tốt yêu cầu chủ hàng trong vận tải. Khối lượng hàng yêu cầu vận chuyển Khối lượng hàng thường rất lớn thường khai thác theo hình thức tàu chuyến, khối lương hàng phụ thuộc vào các hợp đồng hay các đơn hàng (yêu cầu của chủ hàng).
Đối tàu dầu thô: đa số vận chuyển từ các mỏ khai thác về các nhà máy lọc dầu, giá dầu thô thấp hơn dầu thành phẩm và khí hóa lỏng nên khối lượng tàu dầu thô thường rất lớn tiết kiệm chi phí cho 1 lần vận chuyển. Đối tàu dầu thành phẩm và khí hóa lỏng: thường vận chuyển theo yêu cầu chủ hàng đến các kho xăng dầu-khí hóa lỏng theo yêu cầu, hao hụt hàng hóa cao hơn tàu dầu thô, đặc tính tàu thường có khối lượng trung bình và linh hoạt hơn để vào được các cầu bến gần bờ. Như vậy, đối với hoạt động vận tải dầu-khí hóa lỏng ngoài việc sử dụng phương tiện vận tải chuyên dụng và phải đảm bảo các quy định của bộ Luật hàng hải nói chung như hoạt động vận tải thông thường, các doanh nghiệp còn phải tuân theo các quy định riêng biệt của Việt Nam và quốc tế về vận tải hàng hàng hóa nguy hiểm. Bên cạnh đó đặc điểm khai thác của tàu dầu – khí hóa lỏng cũng mang tính chất riêng biệt so với các loại hàng thông thường.
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động vận tải dầu - khí hóa lỏng Theo Bùi Thị Thanh Nga (2016), để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh vận tải về mặt tài chính có các tiêu chí chính về: doanh thu và lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận và năng suất lao động, các chỉ tiêu này đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh vận tải dầu khí trong một giai đoạn nhất định. Về mặt tài chính a. Doanh thu, lợi nhuận Doanh thu, lợi nhuận vừa được coi là nhân tố để tính toán hiệu quả kinh tế, vừa được coi là một chỉ tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận trong một kì kinh doanh được tính bằng hiệu của doanh thu trừ đi giá sản phẩm, các loại thuế phải nộp và các tổn thất trong một kì kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển thì lợi nhuận kinh doanh vận tải biển trong kì kinh doanh bằng hiệu của doanh thu kinh doanh vận tải biển trừ đi chi phí trong kì vận chuyển bỏ ra như nguyên nhiên liệu, thuyền viên,…, các loại thuế phải nộp và các tổn thất trong kinh doanh vận tải biển sau mỗi kì kinh doanh. Tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ số xem xét lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây cũng là một yếu tố cơ bản đại diện cho khả năng sinh lời và sức cạnh tranh của công ty. Tỉ lệ này giúp theo dõi sự tăng trưởng lợi nhuận của công ty và so sánh nó với tỷ lệ lợi nhuận của đối thủ cạnh tranh.
Thứ nhất, chỉ số ROE dùng đo lường mức độ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, hay hiểu đơn giản là với một đồng vốn chủ sở hữu thì thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Do đó, ROE càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng có hiệu quả và điều này là cơ sở đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai. Thứ hai, Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Có thể đánh giá mức độ hiệu quả này bằng cách so sánh với tỷ số của các công ty cùng ngành. Nếu tỷ số của các công ty đối thủ cao hơn, thì công ty đang phân tích rất khó cạnh tranh được với công ty cùng ngành. Áp dụng chỉ số này cho từng 18 sản phẩm là tiền đề để thiết lập chính sách giá. Ngoài ra cũng nên sử dụng nó trong việc đàm phán các chi phí mua nguyên vật liệu với các nhà cung cấp.
Năng suất lao động Năng suất lao động được tính bằng thương của sản lượng trên số lượng lao động.