phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA VIỆT NAM VÀ CỦA TỈNH BÌNH PHƢỚC CHƢƠNG 3. CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC CNTT TỈNH BÌNH PHƢỚC 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Khái quát về CNTT 1. Định nghĩa Có nhiều định nghĩa khác nhau về CNTT. Tuy nhiên, có thể hiểu: "CNTT - tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”1. Các thành phần của CNTT Các thành phần chính của CNTT: Kết cấu hạ tầng CNTT, nhân lực CNTT, tổ chức ứng dụng và phát triển CNTT.
Vai trò của CNTT Có thể thấy vai trò quan trọng của CNTT trong các lĩnh vực sau: QLHCNN, trong giáo dục, đào tạo, sản xuất và kinh doanh. CNTT&TT nếu được ứng dụng hợp lý trong QLNN sẽ mang lại các lợi ích: cắt giảm chi phí, cho phép nhiều dữ liệu hơn được chia sẻ giữa các HTTT để có thể phản ứng nhanh, chính xác hơn đối với những yêu cầu; cho phép người dân tiếp cận ở tất cả các bộ, ngành và các cấp chính quyền từ bất kỳ nơi nào theo phương thức thuận tiện, linh hoạt hơn - điện tử một cửa. Các loại dịch vụ này có thể ngăn ngừa quan liêu, sử dụng sai các dịch vụ và lợi ích công, người dân ngày càng tin tưởng vào các dịch vụ thuế và phúc lợi xã hội.2 CNTT có thể mang đến cho CPĐT (còn được gọi là chính phủ số, chính phủ làm việc trên Internet, chính phủ trực tuyến.) các lợi ích: Tăng cường sự điều hành có hiệu quả của chính phủ và sự tham gia của người dân; Nâng cao năng suất và tính hiệu quả trong việc đề ra và thực thi các quyết định của các cơ quan của chính phủ; Cung cấp các dịch vụ công cho các doanh nghiệp và 1 Theo Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT, tr. 2 Theo Lê Ánh Hồng, Vai trò của CNTT&TT trong khu vực công, http://www.vn/portalid/52/tabid/108/catid/319/distid/1519_Vai_tro_cua_cong_nghe_thong_tin_va_t ruyen_thong_trong_khu_vuc_cong.html#, ngày cập nhật 12.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người dân; tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh; nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội. Trong thực tế, các quốc gia đã triển khai 4 mô hình CPĐT: (1) Mô hình CPĐT hai thành phần: Mô hình này để giải quyết các vấn đề giữa chính phủ với người dân (Government to Citizent – G2C) và các vấn đề giữa chính phủ và doanh nghiệp (Government to Business – G2B). (3) Mô hình CPĐT bốn thành phần: Với những quốc gia có trình độ CNTT thấp thì để xây dựng CPĐT phải qua giai đoạn đưa CNTT, chủ yếu là máy tính điện tử và mạng máy tính vào các hoạt động hành chính của từng cơ quan. Đây chính là quá trình điện tử hóa các nghiệp vụ và cách thức giải quyết công việc hành chính của từng nhân viên trong bộ máy công quyền được gọi là TMĐT giữa các cơ quan chính phủ và nhân viên của chính các cơ quan đó (Government to Employee – G2E).1: Tƣơng tác giữa các thành phần CPĐT trong môi trƣờng số hóa (Nguồn: Trần Văn Hòe (2010), Giáo trình TMĐT căn bản, tr.
314) 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo chúng tôi, khi ứng dụng CNTT, yếu tố quan trọng nhất cần xem xét là nhân lực CNTT chứ không phải các nhân tố thuần kĩ thuật.1 cho thấy mối quan hệ tương tác thống nhất giữa các thành phần của CPĐT trong môi trường số hóa. Sự tương tác thống nhất và hiệu quả chỉ có được khi nhân lực ứng dụng CNTT (nhân viên chính phủ, người dân, doanh nghiệp…) am hiểu lĩnh vực chuyên môn (công việc) của mình và phải có khả năng sử dụng, ứng dụng được CNTT. Ví dụ, nếu triển khai cơ sở tầng CNTT tốt (đường truyền mạng tốt, máy tính, phần mềm tiên tiến…) nhưng nhân viên chính phủ, người dân không ứng dụng được thì chỉ làm lãng phí nguồn lực xã hội. Cần lưu ý là: “CPĐT không phải là một thực thể mà chỉ là một công cụ, một phương thức làm việc mới để hoạt động của các CQNN đạt hiệu quả cao hơn, minh bạch hơn, phục vụ người dân tốt hơn”3.
Việc xây dựng và phát triển các dịch vụ của CPĐT ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả. Ví dụ, “Mô hình một cửa cấp huyện” được ứng dụng đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2005, sau đó triển khai rộng trên toàn quốc đã mang lại những hiệu quả: giúp cán bộ thụ lý hồ sơ nâng cao năng suất, giảm khối lượng công việc thủ công từ 20% đến 30%; cung cấp thông tin chính xác kịp thời, bất cứ lúc nào, đồng thời giúp việc tra cứu, thống kê báo cáo dễ dàng hơn4. Tuy nhiên, Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm triển khai mô hình một cửa điện tử cấp huyện khu vực miền Bắc” đã chỉ ra hạn chế của “một cửa điện tử”. Quy trình xử lý hồ sơ đã bộc lộ yếu tố tiêu cực khi các doanh nghiệp, cá nhân nắm được ai là người đang giải quyết hồ sơ (cán bộ gây khó khăn) sẽ tranh thủ tìm mọi cách để tiếp xúc, nhờ cậy.
Vì vậy, chưa thể giảm thiểu tiêu cực phát sinh so với chuyện tiếp xúc trực tiếp trong giải quyết thủ tục hành chính công như trước kia. Đầu tư cho một cửa điện tử rất tốn kém, lãng phí (nhất là 3 http://vietnamnet.vn/cntt/200911/Doi-thoai-truc-tuyen-Trien-khai-Chinh-phu-Dien-tu-tai-VN-879861/: Trích trả lời của ông Nguyễn Minh Hồng, Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông, tại buổi đối thoại trực tuyến về chủ đề "Chính phủ điện tử", cập nhật 23. 4 Theo Quỳnh Anh, Hiệu quả từ Mô hình một cửa, http://www.vn/articles/tin-tuc/tin-trong- nuoc/2010/05/1219012/hieu-qua-tu-mo-hinh-mot-cua/, ngày cập nhật 10. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các địa phương miền núi, địa phương KT - XH còn phát triển chậm…).
Một số thiết bị, phần mềm còn chưa hiệu quả do chưa phù hợp với trình độ dân trí. Đa phần người dân chưa biết sử dụng CNTT, không biết cách tra cứu tài liệu trong hệ thống màn hình cảm ứng, không biết xếp hàng điện tử và dùng mã vạch tra cứu kết quả.“…các địa phương cần đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền để người dân hiểu và dần ứng dụng một cửa điện tử”.5 Vì vậy, có thể khẳng định lại là NLCNTT là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của việc ứng dụng CNTT. Có thể thấy rõ hơn các luận điểm này khi phân tích vai trò của CNTT trong GD&ĐT; trong sản xuất và kinh doanh. Đối với các nước đang phát triển, CNTT&TT mang lại triển vọng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo NNL.
CNTT&TT hỗ trợ cho việc thu nhận kiến thức, tạo ra những cơ hội để đẩy mạnh hệ thống giáo dục, nâng cao năng lực học tập và tạo lập, mở rộng cơ hội cho người nghèo.6 Học mở và học từ xa cung cấp cơ hội học tập khi người học và người dạy cách biệt về thời gian hoặc không gian với sự ứng dụng CNTT&TT dưới các hình thức: (1) Radio và tivi; (2) Hội nghị truyền hình; (3) Máy tính và Internet: E-learning dành cho việc học ở tất cả các cấp độ, chính quy và không quy thông qua hình thức sử dụng Internet, mạng LAN hoặc WAN cho toàn bộ hay chỉ một phần của khóa học. Học kết hợp (Blended Learning) là sự kết hợp giữa hình thức học truyền thống và E-learning. CNTT&TT cho phép tiếp cận những tài nguyên đào tạo từ xa, với những nguồn tài nguyên con người - những chuyên gia, nhà nghiên cứu trên thế giới. CNTT&TT giúp người học trở thành lực lượng lao động phù hợp trong tương lai, có lợi thế cạnh tranh trong TTLĐ toàn cầu hóa.7 CNTT&TT nâng cao 5 http://www.vn/Home/Van-hoa-Xa-hoi/Mot-cua-dien-tu-khong-giam-duoc-tieu- cuc/2010/09/2SVMC7432070/View: Lê Minh, Một cửa điện tử không giảm được tiêu cực, ngày cập nhật 29.
Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in.2008 7 Những kĩ năng của thế kỷ 21 bao gồm: kiến thức cơ bản về kĩ thuật số (kiến thức về tính năng, nhìn, khoa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động lực và sự tham gia của người học trên cơ sở lấy người học làm trung tâm. CNTT&TT giúp học tập mang tính đánh giá vì nó cung cấp những công cụ chuẩn xác để đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và chặc chẽ hơn để có phương thức điều chỉnh hiệu quả. Tuy nhiên, tính hiệu quả, chi phí, tính công bằng và bền vững là bốn vấn đề lớn cần xem xét khi sử dụng CNTT&TT trong giáo dục. “Việc ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục, khi được thực hiện mà không có sự cân nhắc kĩ càng, có thể để lại hậu quả hơn nữa cho những người kém thuận lợi”8.
CNTT&TT có lúc thay thế được giáo viên, song không phải lúc nào cũng thay thế được. Nhiều giáo viên không muốn ứng dụng CNTT&TT do thiết kế phần mềm nghèo nàn, hoài nghi về tính hiệu quả của CNTT&TT, thiếu sự hỗ trợ quản lý, tăng thời gian và nỗ lực cần thiết để học CNTT và sử dụng nó, cảm giác mất quyền lực trên lớp học.9 Tại Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã có chỉ thị về tăng cường "đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD&ĐT". Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ. Ngành GD&ĐT đã triển khai các phần mềm điều hành, quản lý nhưng những ứng dụng này mang tính tự phát, chưa có phần mềm thống nhất về quản lý và hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành.
Nhân lực ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục và tại các trường vừa thiếu, vừa nhận thức không đồng đều. Tâm lý ngại thay đổi, trì trệ trong nếp nghĩ của một số giáo viên, lãnh đạo cũng là rào cản lớn. Nhiều trường học có trang bị phòng máy vi tính nhưng thường xuyên đóng cửa. Ở các thành phố, chưa thực hiện được 100% việc dạy và học với giáo án điện tử; con số này còn rất thấp ở các vùng sâu, vùng xa.10 học, công nghệ, thông tin, văn hóa và nhận biết toàn cầu), tư duy sáng tạo, giao tiếp hiệu quả… 8 www.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in.
Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr. Tinio (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, Tr.org/ecohub/resources/CNTT&TT-in.2008 10 Nhật Dương, Ứng dụng CNTT trong giáo dục: đi tìm ẩn số bài toán kinh phí, http://www6.asp?NewsId=195042&CatId=71, ngày cập nhật 26.2010 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.