CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về nâng cao hiệu quả tín dụng xuất - nhập khẩu của ngân hàng thương mại 1. Nâng cao hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại 1. Hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Để hiểu được khái niệm hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại, ta sẽ tìm hiểu khái niệm về hiệu quả.
Hiệu quả: Hiệu quả là khái niệm dùng để đánh giá giữa kết quả của việc thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể đó bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện cụ thể nhất định. Hiệu quả được đánh giá theo hai công thức sau: Công thức tính hiệu quả: Hiệu quả tuyệt đối: E = K - C Hiệu quả tương đối: E = K/C Trong đó: K: Kết quả nhận được C: Chi phí bỏ ra E: Hiệu quả Phân loại hiệu quả: Hiệu quả được phân loại theo từng cặp như sau: Hiệu quả doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế xã hội Hiệu quả doanh nghiệp: 5 Hiệu quả doanh nghiệp còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay hiệu quả tài chính. Đây là hiệu quả về kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận mà doanh nghiệp có được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi nhuận đó.
Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng nhất của tất cả các doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh được đánh giá qua các cách sau: + Hiệu quả về kết quả: Hiệu quả về kết quả là việc so sánh các kết quả đạt được của cùng chủ thể đầu tư trong các giai đoạn khác nhau hoặc so sánh các kết quả đạt được của các chủ thể khác nhau hoạt động trong cùng ngành trong cùng một giai đoạn nhất định. + Hiệu quả về chi phí: Hiệu quả về chi phí phản ánh mức độ sử dụng tiết kiệm các nguồn lực đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: đất đai, nguyên vật liệu, nhân lực, vốn, trình độ khoa học công nghệ …. Và mức độ tiết kiệm thời gian lao động.
Hoạt động sản xuất kinh doanh như nhau tạo ra cùng một kết quả nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh nào có chi phí đầu vào thấp hơn thì được đánh giá là hoạt động đó có hiệu quả hơn. Hiệu quả kinh tế xã hội: Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả tổng thể được xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế của một đất nước. Chủ thể của hiệu quả kinh tế xã hội là toàn bộ xã hội. Những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế xã hội xuất phát từ quan điểm của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả được xem xét chỉ trong phạm vi một đối tượng như là một dự án, một doanh nghiệp,…do chính hoạt động của đối tượng đó tạo ra. Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả có được do hoạt động của một đối tượng nào đó tạo ra cho đối tượng khác. Ví dụ như việc ngân hàng đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, nâng 6 cao chất lượng phục vụ khách hàng thì hiệu quả kinh doanh của ngân hàng tăng lên đồng thời đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng, khách hàng được phục vụ tốt hơn và nhanh hơn. Hiệu quả của ngân hàng là hiệu quả trực tiếp, còn hiệu quả khách hàng có được là hiệu quả gián tiếp.
Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài : Hiệu quả trước mắt là hiệu quả có được từ hoạt động của chủ thể trong khoảng thời gian ngắn hạn. Lợi ích do chủ thể tạo ra trong loại hiệu quả trước mắt là lợi ích mang tính tạm thời. Ví dụ như việc xuất khẩu hàng hóa là nguyên liệu thô như dầu mỏ, hàng thủy sản, nông sản chưa qua chế biến có thể mang lại hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài chưa chắc đã mang lại hiệu quả. Hiệu quả lâu dài là hiệu quả có được từ hoạt động của chủ thể trong khoảng thời gian dài hạn.
Ví dụ như việc bỏ tiền để đầu tư cho việc học hành có thể ảnh hưởng đến lợi ích trước mắt nhưng về lâu dài sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bản thân. Hiệu quả tín dụng XNK của NHTM Ngân hàng thương mại thực chất cũng là một dạng doanh nghiệp với mục tiêu là tạo ra lợi nhuận tối đa với nguồn lực đầu vào nhỏ nhất nhưng điểm khác biệt là ngân hàng thương mại là đối tượng kinh doanh chính là tiền tệ. Đầu vào của ngân hàng thương mại là nguồn vốn bào gồm vốn tự có, vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế, nguồn vốn vay của NHNN và các TCTD khác, vốn từ phát hành trái phiếu, kỳ phiếu,…Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để thực hiện hoạt động kinh doanh bao gồm: hoạt động tín dụng cho vay như cho vay tiêu dùng mua ô tô, du học, mua nhà cửa, đất đai, kinh doanh chứng khoán,.hoạt động đầu tư như kinh doanh chứng khoán, góp vốn vào các công ty khác,…hoạt động kinh doanh ngoại tệ,…Qua quá trình sử dụng nguồn vốn có được, ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận. Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu là một bộ phận của hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
7 Với nguồn vốn của ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Vì tín dụng là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên hiệu quả tín dụng nói chung, hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng thì đều là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng. Như vậy, hiệu quả tín dụng XNK của NHTM là hiệu quả của quá trình sử dụng vốn và tạo ra lợi nhuận của hoạt động tín dụng XNK của NHTM. Hiệu quả của tín dụng xuất nhập khẩu thể hiện bằng sự tăng trưởng của ngân hàng về khách hàng và thị trường, về chỉ số lợi nhuận …có được từ hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu.
Nâng cao hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Bất cứ doanh nghiệp nào khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều mong muốn đạt được hiệu quả cao. Tuy nhiên, để duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được. Ngân hàng có thể hiểu là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, vì vậy trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt thì vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh vẫn luôn được ngân hàng quan tâm. Nâng cao hiệu quả tín dụng nói chung hay nâng cao hiệu quả tín dụng XNK nói riêng là bộ phận góp thành việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Như đã đề cập ở trên thì hiệu quả là khái niệm dùng để đánh giá giữa kết quả thực hiện các hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó với những điều kiện nhất định. Theo đó, hiệu quả tuyệt đối là chênh lệch giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra và hiệu quả tương đối là tỷ số giữa kết quả thu được với chi phí đầu vào. Bất cứ hoạt động nào có hiệu quả khi kết quả thu được lớn hơn chi phí đầu vào. Nâng cao hiệu quả có thể được hiểu là (i) nâng cao kết quả đầu ra với cùng một chi phí đầu vào cố định hoặc (ii) tạo ra kết quả đầu ra không đổi với chi phí đầu vào ít hơn.
Như vậy, về mặt tuyệt đối thì nâng cao hiệu quả là nâng cao chênh lệch giữa kết 8 quả thu được với chi phí bỏ ra. Còn về mặt tương đối thì nâng cao hiệu quả là nâng cao tỷ số giữa kết quả đầu ra so với chi phí đầu vào. Ngân hàng thương mại cũng được xem như là một doanh nghiệp nhưng là một doanh nghiệp đăc biệt bởi vì NHTM kinh doanh tiền tệ với mục đích tạo ra lợi nhuận tối đa. Hoạt động tín dụng XNK của NHTM sử dụng nguồn vốn có được của NHTM để tài trợ cho hoạt động tín dụng XNK bao gồm cho vay, phát hành L/C, phát hành bảo lãnh, thực hiện cho vay chiết khấu hối phiếu,…phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp XNK.
Nâng cao hiệu quả tín dụng XNK của ngân hàng thương mại là đẩy mạnh sự tăng trưởng về lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn để đạt được lợi nhuận đã đặt ra. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là cần thiết vì hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành ngoại thương nói riêng và đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Vai trò đó được thể hiện qua các mặt sau: Thứ nhất, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp liên tục, không bị gián đoạn. Thứ hai, tín dụng xuất nhập khẩu góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn. Thứ tư, tín dụng xuất nhập khẩu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối trung gian tiếp nhận các nguồn tài trợ của nước ngoài cho hoạt động xuất nhập khẩu. Thứ sáu, tín dụng xuất nhập khẩu góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác trên thế giới.
Cuối cùng, tín dụng xuất nhập khẩu thực hiện chính sách của Nhà nước trong từng giai đoạn nhất định góp phần thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, đạt được các mục tiêu của nền kinh tế quốc gia. 9 Việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại không chỉ có tác dụng làm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà còn có tác dụng ổn định và phát triển kinh tế đất nước.