phần mở đầu, kết luận, nội dung của bài luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về tín dụng bán lẻ và hiệu quả của tín dụng bán lẻ. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Phước giai đoạn 2013 - 2015. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bình Phước. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG BÁN LẺ 1.
Tổng quan về tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng bán lẻ TDBL là loại hình tín dụng gồm các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ tín dụng khác áp dụng cho đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư, dịch vụ và tiêu dùng đời sống. Như vậy, theo khái niệm trên thì đối tượng phục vụ của dịch vụ TDBL là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng phục vụ đời sống v. Đặc điểm của tín dụng bán lẻ TDBL được xem là gói sản phẩm tín dụng với nhiều dịch vụ đa dạng nhằm phục vụ cho một số lượng lớn các khách hàng nhỏ lẻ với số tiền cho vay thấp cho từng đối tượng.
Chính vì khoản vay nhỏ và đối tượng là khách hàng cá nhân, hộ gia đình nên về mặt hồ sơ trong TDBL là tương đối đơn giản và thủ tục giải quyết thường nhanh hơn so với các loại hình sản phẩm tín dụng khác. Về mặt thẩm định tín dụng và hồ sơ trong TDBL cũng không quá phức tạp và cũng không cần phân tích, đánh giá báo cáo tài chính như trong tín dụng đối với doanh nghiệp. Tùy vào quy định riêng của mỗi hệ thống NHTM khác nhau mà hồ sơ TDBL cũng sẽ có một số điểm chi tiết khác nhau. Tuy nhiên, khi vay vốn hoặc khi thực hiện một khoản cấp tín dụng, một hồ sơ TDBL bao gồm các loại giấy tờ cơ bản có thể kể đến như sau: 4 - Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người vay, người được cấp tín dụng (như chứng minh nhân dân, hộ chiếu, hộ khẩu, đăng ký kết hôn…) - Giấy đề nghị vay vốn, cấp tín dụng của khách hàng.
- Giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng khoản vay, khoản tín dụng. - Giấy tờ liên quan đến đảm bảo tín dụng (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) - Giấy tờ chứng minh nguồn thu nhập, khả năng trả nợ vay, hoàn trả khoản tín dụng của khách hàng. Vai trò của tín dụng bán lẻ Đối với nền kinh tế: Kích thích tiêu dùng xã hội, qua đó tạo điều kiện kích thích phát triển sản xuất xã hội. Hoạt động TDBL tạo điều kiện tốt trong việc phân phối vốn đến đông đảo khu vực dân cư, giúp cho họ có đủ nguồn vốn để chi tiêu trong sinh hoạt cuộc sống, cũng như phát triển sản xuất kinh doanh.
Điều này sẽ kích thích và đẩy mức tiêu dùng xã hội tăng lên. Và khi mức tiêu dùng xã hội tăng lên sẽ là động lực kích thích các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất để tạo ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Bên cạnh việc kích thích phát triển sản xuất từ khu vực doanh nghiệp, hoạt động TDBL bản thân nó còn tạo điều kiện cho khu vực dân cư trực tiếp mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của mình. Đối với khách hàng vay vốn: Phát triển sản xuất kinh doanh và cải thiện, nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân.
Khi có nhu cầu vốn để thực hiện các chương trình chi tiêu cho cá nhân và hộ gia đình, người dân có thể sử dụng các sản phẩm, dịch vụ TDBL tại các NHTM. Thông qua các sản phẩm TDBL, sẽ giúp cho người dân có đủ nguồn tiền cần thiết cho các kế hoạch phân bổ chi tiêu của mình, đảm bảo chi tiêu sinh hoạt hằng ngày được ổn định, qua đó cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư. Đối với ngân hàng: Là kênh phát triển ổn định, lâu dài và bền vững cho các ngân hàng. 5 Hoạt động TDBL với đối tượng chủ chốt là rất rộng khắp và đông đảo từ khu vực dân cư nên đây sẽ là kênh phát triển ổn định lâu dài và bền vững cho các ngân hàng.
Bên cạnh đó, TDBL còn tạo điều kiện để ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng. Chính vì vai trò này mà ngày nay các NHTM rất chú trọng trong việc phát triển hoạt động TDBL của mình, coi đây là chiến lược quan trọng và có ý nghĩa lớn lao, vì nó liên quan đến sự phát triển và tồn vong của mỗi ngân hàng trong thời kỳ cạnh tranh. Các loại hình tín dụng bán lẻ Các hình thức và sản phẩm TDBL tại các NHTM thường rất đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau. Tuy nhiên, có thể gom chúng lại theo từng nhóm và ta có thể kể đến những nhóm hình thức TDBL như sau: 1.
Cho vay sản xuất kinh doanh Cho vay sản xuất kinh doanh (SXKD) là một hình thức TDBL nhằm tài trợ nguồn vốn trong hoạt động SXKD hoặc đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh của đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình có hoạt động SXKD với qui mô nhỏ. Số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn của loại hình sản phẩm này thường rất lớn nhưng doanh số vay lại không lớn và mang tính nhỏ lẻ, bao gồm những dạng cho vay sau: Cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là cá nhân và hộ nông dân sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản, v.v… Ngoài việc đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất cho bà con nông dân, cho vay nông nghiệp còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần thay đổi tập quán, thói quen làm ăn, chuyển từ sản xuất nông nghiệp với qui mô nhỏ lẻ sang sản xuất với qui mô lớn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện đời sống của người dân ở các vùng nông thôn. Cho vay tiểu thương chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng cá thể, hộ dân buôn bán nhỏ. Thông qua hình thức cho vay này đã cung cấp được vốn cho 6 bà con tiểu thương, qua đó góp phần giảm thiểu nạn cho vay nặng lãi đầy rủi ro hiện đang rất phổ biến trong xã hội.
Đối với loại hình cho vay này, do tâm lý ngại tiếp xúc với ngân hàng, cũng như khả năng hiểu biết của đối tượng khách hàng này còn hạn chế nên mặc dù có nhu cầu vay vốn nhưng nhiều khi khách hàng còn ngại tiếp xúc với ngân hàng, ngại làm các thủ tục vay vốn. Do đó, để thu hút lượng khách hàng này ngày một đông đảo đòi hỏi ngân hàng phải có chính sách phù hợp nhằm tìm kiếm và tư vấn tốt cho khách hàng vay. Cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vố để mua sắm, chi tiêu cho các tiện nghi sinh hoạt của gia đình nhằm nâng cao đời sống của người dân, qua đó cũng kích thích tiêu dùng xã hội, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Mặc dù các khoản vay là nhỏ lẻ nhưng đây lại là nhóm đối tượng khách hàng có số lượng rất đông nên tổng nhu cầu vay tiêu dùng cũng sẽ rất lớn.
Nhiều hình thức cho vay tiêu dùng đã được các NHTM áp dụng bao gồm cả cho vay bất động sản, phục vụ nhu cầu về nhà ở cho người dân như chuyển nhượng, mua, hoặc hợp thức hóa nhà đất, cũng như xây dựng và sửa chữa nhà cửa khi khách hàng gặp khó khăn về tài chính và cần phải đi vay. Bên cạnh đó, NHTM cũng cho vay bằng hình thức cầm cố hoặc chiết khấu giấy tờ có giá. Thực chất đây là sản phẩm tín dụng dành cho đối tượng khách hàng là cá nhân có các khoản tiền gửi tại ngân hàng như sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, v.v… Những người nắm giữ các khoản tiền gửi này có nhu cầu sử dụng vốn đột xuất nhưng các khoản tiền gửi của họ lại chưa đến hạn thanh toán. Vì các khoản tiền gửi này chưa đến hạn thanh toán nên nếu khách hàng rút trước hạn thì sẽ bị thiệt hại về tiền lãi (có thể hưởng lãi không kỳ hạn thay vì lãi có kỳ hạn như đã định).
Do vậy, ngân hàng đã thực hiện loại hình cho vay cầm cố hoặc chiết khấu giấy tờ có giá này để giúp khách hàng có thể đáp ứng được nhu cầu về sử dụng vốn nhưng vẫn đảm bảo được những quyền lợi về tiền gửi của khách hàng. 7 Đây cũng là một loại hình cho vay phi rủi ro vì nó được đảm bảo bằng chính khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng. Thẻ tín dụng cá nhân Trong những năm gần đây, với xu thế phát triển thanh toán không dùng tiền mặt thì hình thức thanh toán bằng thẻ và bằng tài khoản tiền gửi thanh toán tại các NHTM cũng tăng cao. Trong đó thanh toán bằng thẻ tín dụng là một hình thức TDBL tương đối mới mẻ, chưa phổ biến tại Việt Nam cũng rất được các NHTM chú trọng phát triển.
Thẻ tín dụng là một loại hình cấp tín dụng mà qua đó ngân hàng cho khách hàng vay tiêu dùng trước, trả tiền sau. Cấp tín dụng bằng hình thức thẻ tín dụng là nhằm giúp khách hàng ứng tiền trước để tiêu dùng với một khoản tiền theo hạn mức đã được ngân hàng cấp (mặc dù trong tài khoản có thể không có số dư tiền gửi), sau đó khách hàng sẽ hoàn trả lại tiền cho ngân hàng sau. Tiền phí, lãi vay hoặc thời gian ân hạn không tính lãi của thẻ tín dụng tùy theo từng điều kiện và quy định riêng cũng như chương trình khuyến mãi thu hút khách hàng của từng ngân hàng trong từng thời điểm cụ thể. Bảo lãnh Bên cạnh những hình thức cấp tín dụng truyền thống như cho vay, thì hình thức cấp bảo lãnh cho khách hàng khi có nhu cầu là điều cần thiết nhằm đa dạng hóa sản phẩm tín dụng nhằm giúp cho khách hàng có nhiều thuận lợi trong sinh hoạt cuộc sống, tiêu dùng và sản xuất kinh doanh.