Chương 1: Khái quát về RRTD và QTRRTD của NHTM. Chương 2: Thực trạng QTRRTD tại Chi nhánh VỊD Public Bank thành phó Hải Phòng giai đoạn 2010 — 2014. 3 Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả QTRR.TD tại Chi nhánh VID Public Bank thanh phó Hải Phòng giai đoạn 2016 — 2020. KHAI QUAT VE RUI RO TIN DUNG VA QUAN TRI RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Những vấn để cơ bản về tín dụng 1. Khai niém tin dung Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nên kinh tế hàng hoá, mặc dủ ra đời từ rất lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về tín dụng vẫn chưa được thống nhất và có nhiều cách hiểu. Về nguồn gốc, khái niệm "Tín dụng" có nguôn gốc từ thuật ngữ La tinh là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm.
Một cách khái quát, tín dụng là quan hệ giữa các bên về việc vay mượn một tài sản, gồm tải sản thực biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất, tài sản tài chính hay thậm chí những giá trị vô hình như uy tín để đảm bảo cho sự vận động của một lượng gia tri nao đó. 282] Nói cách khác, quan hệ tin dụng thê hiện sự vay mượn, là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng gia tri tài sản từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm (tin tưởng) người sử dụng tài sản hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lượng giá trị tương lai lớn hơn giá trị ban đầu. 26] Như vậy, phạm trù tín dụng gắn với chuyển nhượng một lượng tài sản có ba đặc điểm chính là: tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị tương lai lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tín nhiệm người sử dụng tài sản có khả năng hoàn trả đúng hạn. Ngày nay, khi dư thừa vốn tạm thời, người sở hữu vốn sẽ đầu tư (cho vay) lẫy lãi và khi thiếu hụt vốn tạm thời thì người ta sẽ đi vay, điều này làm phát sinh quan hệ tín dụng trực tiếp.
Tuy nhiên, do có nhiều hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp, như người dư thừa vốn và người thiếu hụt vốn khó gặp nhau về mặt không gian, thời gian, khối lượng, loại tiền, lãi suất và đặc biệt là độ tin cậy lẫn nhau, điều này khiến cho tín dụng trực tiếp không thé phat triển và mở rộng. Các tô chức tín đụng, mà trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương 5 mại đóng vai trò trung gian tài chính để chắp nối nhu cầu đầu tư và nhu cầu đi vay trong nên kinh tế, trên cơ sở nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được cấp tín dụng cho những người có nhu cầu vốn tạm thời. Như vậy, ngân hàng thực hiện chức năng luân chuyển vốn giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế; thực hiện chức năng này, ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) và vai trò là người cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà chủ thể dư thừa vốn, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu câu vốn trong nên kinh tế.
Theo Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cấp tin dụng là việc thoả thuận đề tô chức, cả nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tin dụng khác. Đặc điểm tín dụng Tín dụng ngân hàng có 5 đặc điểm của tín dụng nói chung: Thứ nhất, tín đụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng fin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc KH sử đụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc và lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ vay (gốc và lãi). Thu hai, tin dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có (hởi hạn hay có tính hoàn trả.
Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, KH phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vôn vay.
6 Thứ tư, tín dụng là hoạt động điểm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hỗ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tôn tại thông tin bat cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thần KH, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của KH như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai.
tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điễu kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ, trong đó bên đi vay (và bên bảo lãnh nếu có) phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Phân loại tín dụng Kinh tế thị trường càng phát triển, xã hội càng hiện đại, thì nhu cầu của con người càng trở nên phong phú và đa dạng, khiến cho các dịch vụ phục vụ con người cũng trở nên phong phú và đa dạng theo. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của KH, ngân hàng luôn phải nghiên cứu đưa ra các sản phẩm phù hợp, điều này khiến cho tín dụng ngân hàng trở nên phong phú và đa dạng như ngày nay.
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, tín dụng được phân loại gồm: a. Can cur thoi hạn cho vay: - Tin dung ngan hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được ding dé: (i) bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các đoanh nghiệp như: bồ sung ngân quỹ, ứng trước tiền hàng, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, duy trì hàng tồn kho.; (1) phục vụ nhu câu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. Đây là loại tín đụng có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ôn của môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. -_ Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên l đến 5 năm và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cô định, cải tiến và đôi mới trang thiệt bị, mở rộng sản xuât và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu 7 hồi vốn nhanh.
Tín dụng trung hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành lập. - Tin dung dai han: La loại tín dụng có thời hạn trên 5Š năm, đáp ứng cho nhu câu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyển sản xuất.), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biến, sân bay.), cải tiến và mở rộng quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo đài, nên tín dụng dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiễn độ dự án. Nói chung, tín dụng đài hạn chịu rủi ro rất lớn, bởi vì thời hạn càng dải, thì những biến động không dự tính được có thể xảy ra càng lớn.
Căn cứ mục đích sử dụng: - Tin dung cho vay SXKD: Là các khoản tín dụng cấp cho DN sử dụng vào mục đích kinh doanh kiếm lời. - Tin dụng tiêu dùng: Là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua săm hàng hoá tiêu dùng đất tiền như phương tiện đi lại, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học, chữa bệnh. Căn cứ hình thức đảm bảo: - Tin dung co dam bảo: Là các khoản tín dụng có tài sản cầm có, thế chấp hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba. - Tin dụng tiêu dùng: Là các khoản tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của bên thứ ba.
Căn cứ phương pháp hoan trả: -_ Tin dụng hoàn trả nhiễu lần: Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay lớn va có thời han dai. - Tin dung hoan tra mot lan: La loai tin dung ma KH chi hoan tra von gốc và lãi vay một lần khi đến hạn. -_ Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín đụng mà KH có thể trả nợ vay bắt cứ khi nao. Căn cứ hình thải giả trị của tín dung: 8 -_ Tín dụng bằng tiên: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó bằng tiên.
- Tin dung bằng tài sản: Là loại tín đụng mà hình thái giá trị của nó bằng tài sản. - Tin dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó bằng uy tín. Căn cứ hình xuất xứ tin dụng: -_ Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín đụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho KH có nhu cầu vay vốn, đồng thời KH hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng. - Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như: tín dụng uỷ thác, tín dụng thông qua tô chức đoàn thê.
Rúi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khai niém rui ro Theo quan điểm truyên thống, rủi ro mang ham ý xấu, không tốt, là khả năng tôn thất về giá trị trong mỗi tương quan với khả năng thu được lợi ích về mặt giá trỊ, là sự tương tác có chủ ý với sự không chắc chắn. Còn theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thé do lường được, rủi ro không chỉ tính đến rủi ro về mặt giá trị mà còn phải tính đến rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược. Theo Frank Knipht: “rủi ro là sự bất trắc có thê đo lường được”.