Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Ouedraogo (2015) đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của sản xuất lúa gạo tại đồng bằng ở Bagre, Burkina Faso. Mục tiêu của nghiên cứu là xem xét mức độ hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế của nông dân trồng lúa trên đồng bằng được tưới tiêu ở Bagré, từ đó đánh giá tiềm năng tăng sản lượng lúa.
Dữ liệu được sử dụng dé phân tích được lay từ 170 nông hộ sản xuất lúa gạo được chọn ngẫu nhiên tại khu vực Bagré. Nghiên cứu sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên và Cobb-Douglas dé phân tích dt liệu. Kết quả cho thấy hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bồ và hiệu quả kinh tế của người sản xuất trung bình lần lượt là 80%, 93% và 74%. Hiệu quả kinh tế bị ảnh hưởng bởi trình độ học van, khuyén nông, mức độ áp dụng công nghệ, mức độ tiếp xúc thị trường, kinh nghiệm trồng lúa và số lao động gia đình.
Nghiên cứu của Hidayati và cộng sự (2019) đã điều tra hiệu quả sản xuất và các yêu tô ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất gạo hữu cơ tại huyện Sumber Ngepoh, Indonesia. Huyện Sumber Ngepoh là một trong những huyện lớn nhất ở tỉnh sản xuất gạo của Indonesia. Nghiên cứu sử dụng ham sản xuất biên ngẫu nhiên dé phân tích dữ liệu. Dữ liệu được thu thập từ 80 nông dân trồng lúa tại huyện Sumber Ngepoh.
Nghiên cứu cho thay hiệu quả kỹ thuật, phân bồ và kinh tế lần lượt là 54,3%, 52% và 31,3%. Các mức trung bình chỉ ra rằng canh tác lúa hữu cơ ở huyện Sumber Ngepoh không tối ưu và cần được tối ưu hóa. Kết quả cho thấy đất, hạt giỗng, phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu hữu cơ, máy kéo, quy mô trang trại, kinh nghiệm và số thành viên gia đình có ảnh hưởng đên hiệu quả sản xuât lúa hữu cơ. Melese và cs (2019) đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế của nông dân sản xuất nhỏ trong sản xuất lúa gạo ở Guraferda Woreda, vùng dân tộc các dân tộc phía Nam của Ethiopia.
Mục tiêu của nghiên cứu là đo lường mức độ hiệu quả kinh tế và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả kinh tế ở Guraferda Wearda. Nghiên cứu khảo sát 148 chủ hộ và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi có cấu trúc trong năm sản xuất 2017/18. Hàm sản xuất Cobb-Douglas và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên được sử dụng dé ước tính mức độ hiệu quả, mô hình Tobit được sử dụng để xác định các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả trồng lúa của nông dân. Kết quả cho thấy hiệu quả phân bổ và kỹ thuật trung bình lần lượt là 78,5 và 80,56%, hiệu quả kinh tế trung bình là 63,18%.
Kết quả hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thay, sản lượng lúa chịu tác động tích cực và đáng kể của đất đai, lao động, giống, sức kéo, thuốc diệt cỏ và phân DAP. Mô hình Tobit cho thấy hiệu quả kinh tế bị ảnh hưởng bởi trình độ học vấn, tần suất tiếp XÚC VỚI khuyến nông, thành viên hợp tác xã, mức độ tiếp xúc thị trường và thu nhập phi nông nghiệp. Nghiên cứu đã đè xuất các chính sách nhằm tạo động lực và đầu tư vào việc cung cấp giáo dục cơ bản, củng có hệ thống khuyến nông hiện có, tổ chức nông dân không phải là thành viên trong hiệp hội hợp tác và phat triển cơ sở hạ tầng thị trường và đường sá để nâng cao hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất lúa gạo nhỏ. Nghiên cứu của Triyono va cs (2021) đã đánh giá giá trị bền vững của trang trại lúa dựa trên hiệu quả kinh tế Ở Yogyakarta, Indonesia.
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích tính bền vững của canh tác lúa bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận giá trị bền vững, dựa trên việc sử dụng hiệu quả kinh tế các nguồn tài nguyên nông nghiệp. Hàm sản xuất Cobb-Douglas và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên được sử dụng dé ước tính mức độ hiệu quả kinh tế và các yếu tô ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của 125 nông hộ tại Khu vực Sleman và Bantul của Đặc khu Yogyakarta với 25 khu vực thủy lợi lấy nước từ tám nguồn sông. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3,2% số nông hộ của hiệu quả kinh tế >70%, hiệu quả kinh tế trung bình của các nông hộ là 29%. Hiệu quả canh tác lúa bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm, diện tích canh tác, tiếp cận tín dụng và tham gia vào các nhóm nông dân.
Nghiên cứu đã dé xuât các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững cho các nông hộ trồng lúa ở Yogyakarta. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) đã so sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mô hình không ứng dụng tiễn bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu khảo sát 750 nông hộ sản xuất lúa thuộc các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Trong đo, có 475 nông hộ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật (giống mới, sạ hàng, ba giảm ba tăng, quản lý dịch hại tổng hợp IPM, một phải năm giảm, nắm xanh, một phải sáu giảm) và 275 nông hộ sản xuất lúa theo mô hình truyền thống.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính toán hiệu quả tài chính và kiêm định trung bình giữa hai tong thê độc lập. Kết quả cho thay mô hình sản xuất lúa có ứng dụng tiễn bộ kỹ thuật đạt hiệu quả tài chính cao hơn so với mô hình không ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Các chỉ tiêu tong chi phi, nang suất, doanh thu và lợi nhuận của mô hình sản xuất có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đều cao hơn mô hình không ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Giá trị Lợi nhuận/tổng chi phi và Lợi nhuan/Doanh thu của mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật lần lượt là 0,854 và 0,433 ở vụ Đông Xuân; 0,550 và 0,330 ở vụ Hè Thu và 0,445 và 0,263 ở vụ Thu Đông.
Các giá trị này ở các nông hộ không ứng dụng tiền bộ kỹ thuật lần lượt là 0,580 và 0,337 ở vụ Đông Xuân; 0,460 và 0,270 ở vụ Hè Thu và 0,395 và 0,254 ở vụ Thu Đông. Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà và Nguyễn Ngọc Phụng (2017) đã tính toán hiệu quả kinh tế sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP ở huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Nghiên cứu khảo sát 150 hộ nông dân sản xuất Thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP về hiệu quả kinh tế và ý kiến của hộ nông dân về thuận lợi, khó khăn trong áp dụng tiêu chuan VietGAP trong sản xuất Thanh long. Ngoài ra, nghiên cứu còn thực hiện các phỏng vấn bán định hướng với cán bộ nông nghiệp, khuyên nông, các nhà quản lý ở địa phương về các van đề liên quan đến phát triển sản xuất Thanh long theo tiêu chuan VietGAP.
Kết qua tính toán các chỉ tiêu hiệu qua sản xuất cho thấy các giá trị Doanh thu/Chi phí, Lợi nhuận/Chi phí và Lợi nhuận/Doanh thu lần lượt là 2,26; 1,26 và 0,56. Qua kết quả phân tích chỉ phí sản xuất cùng với các tỷ số tài chính trên cho thấy việc sản xuất Thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho hộ nông dân trồng Thanh long ở huyện Hàm Thuận Nam. Bên cạnh đó, kết quả so sánh thu nhập của sản xuất thanh long VietGAP với các cây trồng khác cũng cho thấy thu nhập từ việc sản xuất Thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP là rất lớn. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết các khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Lê Cảnh Dũng và cộng sự (2019) đã phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa được đánh giá bằng hàm lợi nhuận biên Cobb-Douglas kết hợp với hàm phi hiệu quả theo phương pháp ước lượng một bước. Dữ liệu từ 470 nông hộ trồng lúa được phân tích bằng phần mềm Frontier 4. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng, hiệu quả kinh tế ở vụ Hè Thu 2017 và Đông Xuân 2017-2018 đạt ở mức khá lần lượt là 77,9% và 82,8%.
Giá lúa giống (vụ Hè Thu), giá phân bón (vụ Đông Xuân) và chi phí thuốc nông dược trong cả hai mùa vụ tác động làm giảm lợi nhuận. Các yếu tố về đặc điểm hộ có ý nghĩa đến lợi nhuận gồm: tuổi, kinh nghiệm, trình độ học vấn của người quản lý hộ, mức độ tham gia tập huấn, số lao động gia đình tham gia sản xuất lúa. Bên cạnh đó, đối tượng thu mua lúa, hình thức thanh toán tiền vật tư nông nghiệp và nhóm giống lúa gieo sạ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu của Phan Thị Thu Hiền và Ngô Thị Mai Vi (2019) đã đánh giá kết quả thực hiện mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng VietGAP với sự liên kết bốn nhà tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng VietGAP được thực hiện trong vụ xuân 2017 tại 3 xã Yên Sơn, Thịnh Sơn và Hòa Sơn, qui mô 10 ha. Nghiên cứu đã khảo sát 90 nông hộ tại 3 xã của huyện Đô Lương về thực trạng tiêu thụ và sản xuất lúa trên địa bàn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA; lấy mẫu và phân tích các mẫu đất, nước và đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh hai, các yếu tố cau thành năng suất. Kết quả cho thấy điều kiện tại huyện Đô Lương thích hợp cho sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP.
Việc tuân thủ theo qui trình VietGAP đã giúp nông hộ quản lý và chăm sóc đồng ruộng được thuận lợi hơn. Kết qủa tính toán hiệu quả kinh tế cho 1 ha cho thấy, lúa VietGAP có chi phí vật chất thấp hơn lúa truyền thống là 2,264 triệu đồng; chi phí lao động cao hơn lúa truyền thống là 0,85 triệu đồng: lợi nhuận của lúa VietGAP cao hơn lúa truyền thống là 10,710 triệu đồng. Bên cạnh đó, việc tham gia sản xuất lúa VietGAP giúp nông hộ nâng cao trình độ sản xuất, bảo vệ sức khoẻ bản thân và môi trường. Nghiên cứu của Phạm Thị Phương Thúy (2020) đã đánh giá hiệu quả kinh tế và mức độ tuân thủ các tiêu chí VietGAP trong mô hình Tôm lúa tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre.
Nghiên cứu đã phỏng vấn 120 nông dân đang sản xuất mô hình Tôm- Lúa truyền thống và Tôm - Lúa VietGAP tại đại bàn.