phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác huy động vốn tại các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 3. Thực trạng công tác huy động nguồn vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thái Nguyên.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thái Nguyên giai đoạn 2015 - 2020. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng đƣợc hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng còn hoạt động độc lập với nhau và thực hiện các chức năng nhƣ nhau đó là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế và phát hành giấy bạc ngân hàng. Sang thế kỷ XVIII, lƣu thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển. Việc các ngân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng làm cho lƣu thông có nhiều loại giấy bạc ngân hàng khác nhau đã gây cản trở cho quá trình lƣu thông hàng hoá và phát triển kinh tế. Chính điều này đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng.
Lúc này hệ thống ngân hàng đƣợc phân thành hai nhóm: thứ nhất là nhóm ngân hàng đƣợc đƣợc phép phát hành tiền đƣợc gọi là ngân hàng phát hành, sau chuyển thành NHTW. Thứ hai là các ngân hàng không đƣợc phép phát hành tiền, chỉ làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Ngày nay, hệ thống ngân hàng của hầu hết các nƣớc trên thế giới là ngân hàng hai cấp trong đó có việt nam: NHTW là chủ thể thực hiện chức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 năng quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực tiền tệ, là ngân hàng phát hành, ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của chính phủ, còn các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ. Do vậy ở mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM.
Ở Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng ban hành ngày 23/5/1990 xác định “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Luật các TCTD đƣợc bổ sung sửa đổi năm 2004, điều 20 giải thích: “TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo qui định của luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng” và “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là thƣờng xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu các phƣơng tiện thanh toán. Hệ thống ngân hàng thƣơng mại có 3 chức năng cơ bản sau: - NHTM có chức năng làm trung gian tín dụng.
- NHTM có chức năng làm trung gian thanh toán. - NHTM có chức năng "tạo tiền". Vai trò của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế: Cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, từ khi ra đời và phát triển NHTM đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 triển nền kinh tế. Ở tất cả các nƣớc, hệ thống NHTM đã không ngừng phát triển, đóng vai trò tập trung những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng vốn cho các nhà đầu tƣ cần vốn.
Đó chính là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn của các NHTM. Bằng hoạt động của mình NHTM đã đóng góp một lƣợng vốn đáng kể và cung cấp hàng loạt các dịch vụ Ngân hàng khác cho nền kinh tế: - Ngân hàng thƣơng mại là nơi cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ. - Là một trung gian tín dụng NHTM đã tích tụ và tập trung đƣợc một khối lƣợng lớn tiền tạm thời nhà rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng. Từ nguồn tiền đó tiến hành cấp phát tín dụng cho các thành phần kinh tế, những tổ chức và cá nhân cần vốn để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình.
Tức là Ngân hàng đóng vai trò là ngƣời môi giới giữa một bên là những ngƣời có tiền nhàn rỗi có thể cho vay và một bên là những ngƣời cần vay vốn. Thực hiện chức năng này tức là Ngân hàng đã trở thành ngƣời khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm cho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lãi. Những hoạt động đó của NHTM đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, biến những đồng tiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt động có ích, tập trung vốn vào việc tài trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm việc làm cho ngƣời lao động và bằng những khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp ngƣời lao động có thêm điều kiện ổn đinh và cải thiện đời sống. - Ngân hàng giúp cho các nhà kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Ngân hàng tài trợ vốn cho các Doanh nghiệp trên cơ sở phải tuân thủ các điều kiện do Ngân hàng đặt ra. Trong đó các khoản tín dụng mà Doanh nghiệp nhận đƣợc đều phải trả lãi và khi hết thời gian sử dụng phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 hoàn trả gốc. Vì vậy để đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Doanh nghiệp thì trƣớc khi cho vay, Ngân hàng cần phải thẩm định phƣơng án sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp, thẩm định tính khả thi của dự án, thẩm định các yếu tố liên quan đến Doanh nghiệp (Uy tín, trình độ nhân viên, tài sản đảm bảo.) một cách chính xác rõ ràng, chi tiết, qua đó cán bộ tín dụng giúp Doanh nghiệp xây dựng phƣơng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Sau khi cho Doanh nghiệp vay vốn, Ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp Doanh nghiệp quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn.
- Ngân hàng khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế: Bất kỳ đối tƣợng nào trong nền kinh tế gửi tiền vào Ngân hàng đều đƣợc hƣởng lãi, điều đó có nghĩa là thu nhập của ngƣời gửi tiền sẽ tăng lên. Ngƣời gửi tiền có thể gửi theo bất kỳ phƣơng thức nào, bất kỳ thời hạn nào, các cá nhân có số tiền nhàn rỗi chƣa sử dụng đến thì có thể gửi vào Ngân hàng khi cần thì có thể rút ra bất cứ lúc nào. Thông qua chính sách lãi suất Ngân hàng đã khuyến khích khách hàng tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để có thể tăng tiêu dùng trong tƣơng lai. - Hoạt động Ngân hàng có tác dụng điều tiết sự dịch chuyển của vốn đầu tƣ dẫn đến bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển vùng.
Trong hoạt động tài trợ của mình, Ngân hàng có thể tài trợ đối với tất cả các đơn vị và cá nhân trong nền kinh tế dƣới các hình thức khác nhau. Với hệ thống các Ngân hàng chuyên doanh cùng với mạng lƣới chân rết của mình, NHTM có mặt ở hầu hết các địa bàn trong phạm vi cả nƣớc. Thông qua đó Ngân hàng sẽ tiến hành cho vay đối với những ai cần vốn mà đáp ứng đƣợc các điều kiện của Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ tiến hành cho vay. Ngoài ra khi có sự ƣu tiên của nhà nƣớc về phát triển ngành nghề hoặc vùng kinh tế nào đó thì Chính phủ đƣa ra những chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 sách riêng cho từng vùng và thông qua hệ thống NHTM sẽ tiến hành cung ứng vốn cho những vùng đó.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng ngày càng phát triển đã làm cho việc di chuyển vốn diễn ra một cách dễ dàng, tập trung duy trì lực lƣợng bình quân từ tất cả các ngành. Đồng thời với sự tác động của Ngân hàng vốn đƣợc dịch chuyển từ vùng thừa vốn sang vùng thiếu vốn đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữa các ngành, xoá dần sự khác biệt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định. - Hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm phát: Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các hoạt động chủ yếu là huy dộng vốn, cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh toán. Lƣợng tiền trong lƣu thông đƣợc Ngân hàng kiểm soát.
Thông qua các khoản mục của NHTM, NHTW sẽ xác định đƣợc lƣợng tiền mặt đang lƣu thông trong nền kinh tế, từ đó để có các biện pháp kiểm soát nhằm đề phòng và hạn chế những ảnh hƣởng xấu có thể xảy ra. Trƣờng hợp nếu xảy ra lạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, NHTW sẽ tiến hành điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu, tham gia vào thị trƣờng mở để tác động tới NHTM để qua đó làm thay đổi lƣợng tiền trong lƣu thông. - Ngân hàng tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy phát triển thƣơng mại quốc tế: Thƣơng mại quốc tế ngày càng phát triển, cùng với xu thế khu vực hoá và toàn càu hoá thì các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mồi quốc gia. Cùng hoà chung với xu thế đó NHTM cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đƣa nền kinh tế của quốc gia mình hội nhập vời nền kinh tế thế giới.