Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam- Chi nhánh huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân“hàng thương mại đã có lịch s hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính quan trọng nhất. NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm cầu nối giữa huy động vốn và cho vay vốn trong nền kinh tế (Lê Văn Tư, 2001). Cho“đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tuợng hoạt động, tùy thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ. Theo“Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Nước Cộng hoà ã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nh m mục tiêu lợi nhuận.
Theo“Luật s a đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, luật số 17/2017/QH14 do Quốc hội nước Cộng hòa ã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IV, kì họp thứ 4, thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2017, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực 8 hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền g i và s dụng số tiền g i để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động khác có liên quan. Các hoạt động chủ y u của NHTM Để“thực hiện nhiệm vụ trung gian tài chính trong nền kinh tế, NHTM thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn của mình. Nhìn chung hoạt động của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực cơ bản (Nguy n Minh Kiều, 2012) Huy“động vốn: Đây là nghiệp vụ cơ bản tạo tiền đề cho hoạt động của NHTM. Để tạo lập nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình các NHTM thực hiện huy động mọi nguồn vốn hợp pháp tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, tập trung vào ngân hàng (luận văn sẽ đi sâu phân tích nghiệp vụ này).
Hoạt“động tín dụng: Cho vay là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các NHTM Việt Nam. NHTM s dụng phần lớn số tiền huy động được để cho vay đối với nền kinh tế. Đây là hoạt động kinh doanh tạo ra thu nhập chủ yếu để bù đắp các loại chi phí trong hoạt động ngân hàng và thu lợi nhuận. Hoạt“động ngân quỹ: Nh m duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng.
Mức dự trữ này cao hoặc thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động, cơ cấu và tính chất nguồn vốn của NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM không sinh lời. - Các“dịch vụ ngân hàng (dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn.): Quan điểm truyền thống cho r ng thu nhập của ngân hàng đều bắt nguồn từ hoạt động cho vay và đầu tư, nhưng thực tế hiện nay thu nhập từ hoạt động quản lý các khoản mục nguồn vốn cũng đóng một vai trò quan trọng như thu nhập từ các khoản mục tài sản trong việc đạt được mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng. Các mặt hoạt động nghiệp vụ của NHTM có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Chỉ huy động được vốn thì mới có 9 nguồn vốn để cho vay và đầu tư. Ngược lại, việc s dụng vốn cho vay có hiệu quả sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển, tạo ra nguồn vốn dồi dào để huy động vào ngân hàng. Mặt khác muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt các dịch vụ trung gian của mình. NHTM“nhận tiền g i hoặc phát hành các công cụ nợ để huy động vốn, s dụng vốn này để cho vay với một lãi suất và k hạn ấn định.
Sau một thời gian nhất định, người vay phải trả cho ngân hàng vốn và một số tiền lãi. Lãi thu được từ các khoản cho vay và các khoản đầu tư sẽ tạo nên thu nhập của ngân hàng. Để tạo“lập được nguồn vốn nh m tài trợ cho danh mục tài sản của mình, các NHTM phải chi phí huy động vốn bao gồm những chi phí như: Tiền lãi; phí bảo hiểm, các khoản chi phí môi giới, chi phí cho bộ máy quản lý, các chi phí khác. Với mục tiêu tăng cường hoạt động kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận, hầu hết các NHTM thường xuyên tìm cách khai thác các nguồn vốn với chi phí thấp nhất để mở rộng cho vay và đầu tư.
Đây là phương thức kinh doanh chủ yếu của các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó NHTM còn cung cấp nhiều các loại hình dịch vụ tài chính khác như: Bảo hiểm, tín thác, đầu tư, kinh doanh chứng khoán. uất phát từ xu hướng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các hoạt động dịch vụ, bên cạnh việc vẫn duy trì các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, thông qua việc đa dạng hoá hoạt động, các NHTM có thể vừa tăng thu nhập vừa có thể cạnh tranh, phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh so với các định chế tài chính phi ngân hàng trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế gọi là “doanh lợi hối đoái.
Như vậy, thu nhập của ngân hàng được hình thành từ các nguồn chính 10 là lãi cho vay, lợi tức từ các khoản đầu tư, thu phí dịch vụ và doanh lợi hối đoái. Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí, nó là động lực để ngân hàng nói chung trong đó có NHTM nói riêng hoạt động, là cơ sở để tồn tại, trụ vững trong cạnh tranh và phát triển. Các khái niệm chung về huy động vốn 1. Nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại - Khái niệm vốn của NHTM Theo Luật s a đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, luật số 17/2017/QH14 năm (2017): “Vốn huy động là tài sản b ng tiền của các tổ chức cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và s dụng với trách nhiệm hoàn trả.
Đây là nguồn vốn chủ yếu của các NHTM, thực chất là tài sản b ng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và s dụng nhưng phải có ý nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm: - Tiền g i không k hạn của các tổ chức, cá nhân - Tiền g i tiết kiệm không k hạn - Tiền g i tiết kiệm có k hạn - Tiền phát hành k phiếu, trái phiếu - Các khoản tiền g i khác Đối với tiền g i của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao dịch với những tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này. Đối với tiền g i tiết kiệm, tiền phát hành k phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết định và người g i tiết kiệm hay mua k phiếu đều nh m mục đích kiếm lời. 11 - Các nghiệp vụ về huy động tiền g i của t chức và dân cƣ - Tiền gửi thanh toán NHTM“có thể thu hút nguồn tiền g i của khách hàng thông qua dịch vụ mở tài khoản tiền g i thanh toán nh m phục vụ các nhu cầu thanh toán qua ngân hàng của khách hàng.
Tiền g i thanh toán là hình thức tiền g i không k hạn (không qui định thời hạn thực g i), qua đó khách hàng có thể g i tiền vào hoặc rút tiền ra bất cứ lúc nào. Với tài khoản này, khách hàng có thể thực hiện các lệnh thanh toán trong và ngoài nước qua ngân hàng. Đối với khách hàng cá nhân, tiền g i thanh toán có thể s dụng để nhận lương, rút tiền qua ATM, thanh toán qua các máy cà thẻ (còn gọi là máy POS). Do nguồn tiền g i này có tính linh hoạt cao, thường không ràng buộc khách hàng g i thời hạn g i tiền do đó các NHTM trả lãi tiền g i không k hạn cho tài khoản tiền g i thanh toán của khách hàng.
Tiền g i thanh toán phù hợp với cả đối tượng khách hàng là tổ chức hay cá nhân. Với“NHTM, tiền g i thanh toán có thể mang lại nguồn tiền g i không k hạn khi khách hàng nộp tiền vào hoặc có nguồn tiền chuyển về nhưng tạm thời chưa s dụng. Các NHTM khác nhau có qui định khác nhau về loại tiền tệ mà họ huy động dưới hình thức tiền g i thanh toán. - Tiền gửi c k hạn của doanh nghiệp, các t ch c kinh t Đây“là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn.
Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng hoá đều g i tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần. Chu k rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Vì vậy, ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể s dụng một cách tương đối thuận lợi.