Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Vài nét về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Sự hình thành hệ thống NHTM là hệ quả tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế thị trường, đó là sản phẩm của cơ chế thị trường hay là yếu tố cấu thành thị trường tài chính; NHTM nói riêng và thị trường tài chính nói chung có tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau; hệ thống NHTM ổn định, phát triển toàn diện là động lực thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và ngược lại. Thuật ngữ “Ngân hàng” bắt đầu được sử dụng từ năm 323 trước công nguyên , cho tới nay, thuật ngữ này đã được dùng để gọi tên cho một thiết chế kinh tế mà hoạt động của nó luôn ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc tới đời sống con người và xã hội.Có nhiều quan niệm khác nhau về NHTM, chẳng hạn: Nước Pháp coi “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên, nhận của công chứng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, TD hay tài chính” [6, tr. Đan Mạch thì coi “Ngân hàng là nơi thực hiện các nghiệp vụ thiết yếu bao gồm: thu nhận tiền ký thác; buôn bán vàng bạc; hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện TD và hối phiếu; bảo lãnh các món nợ; thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân; đứng ra bảo hiểm, bảo đảm ký quỹ; tham dự vào thiết lập các xí nghiệp” [11, tr.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về NHTM: - Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. - Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động NH , các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. NHTM là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, thực hiện các chức năng: 4 (1) Trung gian tài chính: Hoạt động chủ yếu của NHTM là chuyển các khoản tiền tiết kiệm thành đầu tư (2) Tạo phương tiện thanh toán: Giấy nợ do NH phát hành là phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Ngày nay, nhà nước tập trung quyền lực phát triển thanh toán tiền qua thẻ, nhưng các NHTM vẫn tạo tiền bằng cách thông qua cho vay các khoản tiền gửi từ NH này đến NH khác (3) Trung gian thanh toán: NH trở thành trung tâm thanh toán lớn nhất trong nền kinh tế với nhiều hình thức thanh toán đa dạng, phong phú (séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thẻ …).
Các NH còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua NHTW hoặc các Trung tâm thanh toán: “ Trong quá trình kinh doanh của mình, NHTM tạo ra các công cụ tài chính, các loại hình dịch vụ tài chính NH làm tăng tính tiện ích của KH khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ NH ”. NHTM thực hiện nhiều chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, do đó đây là kênh quan trọng trong nền kinh tế.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại NHTM có những đặc điểm sau đây: Một là: NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh để kiếm lời cho nên hoạt động của nó nhằm mục tiêu chính là theo đuổi lợi nhuận. Những hoạt động kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh đặc biệt với chất liệu kinh doanh chủ yếu là quyền sử dụng các khoản tiền, sản phẩm của NHTM có đặc tính phi vật chất và hoạt động của nó gắn liền với quá trình vận động và lưu thông tiền tệ. Hai là: Hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh có mức độ rủi ro cao hơn so với các hình thức kinh doanh khác và nó thường có ảnh hưởng sâu sắc liên quan đến ngành khác và toàn bộ nền kinh tế.
Do đó, để phòng tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát và làm giảm thiểu những tổn hại do ngân hàng vỡ nợ gây ra, chính phủ các quốc gia đã đặt ra những đạo luật riêng nhằm bảo đảm cho hoạt động của ngân hàng có thể được vận hành an toàn và hiệu quả. Ba là: NHTM là một trung gian tài chính điển hình. Điều này được biểu hiện rõ trên hai phương diện: - NHTM là trung giữa những người có vốn và người cần vốn. 5 - NHTM là trung gian giữa ngân hàng trung ương ( NHTW ) với công chúng và nền kinh tế.
Trước tiên, NHTM là trung gian giữa người có vốn nhàn rỗi và người cần vốn nhằm tạo điều kiện cho cung cầu về nguồn vốn được gặp nhau. Thực tế trong nền kinh tế luôn tồn tại những người có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chưa dùng đến hoặc để dành cho các nhu cầu chi tiền sau này. Tuy nhiên, đồng thời cũng có những người đang có nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất ,kinh doanh hay cho bất cứ nhu cầu nào ở hiện tại. Nhưng những người có vốn và người cần vốn không phải lúc nào cũng dễ dàng gặp được nhau hoặc có nhu cầu và lợi ích phù hợp với nhau.
Thế nên, để giải quyết được mâu thuẫn này cần thiết phải có người thứ ba đứng ra làm trung gian để đáp ứng được nhu cầu của cả hai phía. Và với việc thông qua cầu nối là NHTM, những nguồn vốn có thời hạn, số lượng khác nhau đã biến thành những nguồn vốn phù hợp với nhu cầu của người cần vốn mà không phải cần đến việc người đang có tiền nhàn rỗi và người đang có nhu cầu về vốn phải trực tiếp gặp nhau. Do đó, NHTM đóng vai trò là trung gian giữa người có nguồn vốn nhàn rỗi và người đang có nhu cầu về vốn. Bên cạnh đó, NHTM không chỉ có vai trò trung gian giữa người có vốn nhàn rỗi với người cần vốn mà còn là một trung gian giữa NHTW với công chúng và nền kinh tế .NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là một cơ quan tổ chức điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của quốc gia, bằng cách sử dụng các công cụ của mình như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB), lãi suất… đã tác động đến hoạt động của các NHTM và các NHTM cũng đã chuyển tiếp các tác động của CSTT đến nền kinh tế.
Ngược lại, hoạt động của các NHTM cũng đem lại những phản hồi lại cho NHTW những thông tin của nền kinh tế để làm cơ sở cho NHTW có thể đề ra và chỉ đạo CSTT nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm , kiểm soát lạm phát, phục vụ thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia.3 Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại Nhìn chung các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM được chia làm 3 loại nghiệp vụ chính như sau : nghiệp vụ huy động vốn, sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian. 6 Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được thể hiện qua hành vi mở tài khoản thực hiện các nhu cầu thanh toán cho khách hàng, hoặc huy động các loại tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, các cá nhân, hộ dân cư , phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, và đi vay các Ngân hàng tổ chức tín dụng khác, vay Ngân hàng Trung ương… Đây là nguồn gốc để các NHTM phát hành cung cấp tín dụng vào nền kinh tế, còn phần vốn tự có của NHTM chủ yếu là nhằm phục vụ cho việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật ,mua sắm trang bị máy móc ,thiết bị … Như vậy có thể nói ngân hàng kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động , tuỳ theo luật pháp của từng nước mà các NHTM được huy động một mức tỷ lệ cao hay thấp số vốn huy động để kinh doanh. Trung bình thường lệ vốn huy động của NHTM có thể gấp 20 lần vốn tự có của NHTM trở lên, hoặc khác đi vốn tự có của NHTM được quy định thông thường bằng hoặc lớn hơn 5% số vốn huy động mà NHTM được phép huy động. Khi đã huy động được số vốn trong tay, để có thể tạo ra lợi nhuận, NHTM phải tiến hành kinh doanh dưới các hình thức sử dụng vốn huy động, mà thong thường chủ yếu là cấp tín dụng, các NHTM có thể sử dụng nguồn vốn đó để kinh doanh dưới các hình thức,dạng đầu tư khác nhau như: kinh doanh ngoại tê, kinh doanh chứng khoán, đầu tư vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp dưới dạng góp vốn, thành lập các công ty… Nếu nghiệp vụ sử dụng vốn của các NHTM có hiệu quả sẽ góp phần mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế, thu hút được nhiều khách hàng đến thực hiện các quan hệ giao dịch với ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng,phát triển nghiệp vụ huy động vốn.
Bên cạnh đó NHTM cũng có thể tạo ra các khoản doanh thu bằng việc thực hiện các dịch vụ được cấp phép như thanh toán, chuyển tiền hộ, tư vấn tài chính,tư vấn cho khách hàng đầu tư,mua bảo hiểm, quản lý hộ tài sản cho khách hàng… trên cơ sở đó ngân hàng thu các khoản phí dịch vụ. Ngày nay nhu cầu phát triển của nền kinh tế càng lớn, đòi hỏi các hoạt động dịch vụ ,trang thiết bị, cơ sở vật chất áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại vào hoạt động ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán không dùng tiền mặt như sử dụng uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thanh toán séc, thanh toán bù trừ, thực hiện chuyển tiền 7 nhanh qua mạng điện thoại,mạng máy vi tính, internet banking,thực hiện thanh toán qua thẻ tín dụng…. Thực hiện tốt những khâu dịch vụ góp phần gia tăng thu nhập cho ngân hàng. Hiện nay, xu hướng nguồn thu về dịch vụ ngày càng gia tăng mạnh và chiếm tỷ lệ lớn về tổng các khoản thu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đồng thời góp phần làm tăng quá trình chu chuyển đồng vốn, giúp ngân hàng tiết kiệm vốn trong quá trình thanh toán, làm giảm đi khối lượng lưu thông tiền mặt, tiết kiệm được khá nhiều chi phí in ấn, chi phí nhân công, kiểm đếm tiền… Ngân hàng thực hiện tốt những khâu dịch vụ, thanh toán sẽ làm thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch, sử dụng các dịch vụ tài chính với Ngân hàng.