Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động huy động tiền gửi của Ngân hàng thương mại. Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu vực 3 Thành phố Tân An, tỉnh Long An. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu vực 3 Thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trước Nhìn chung trong phạm vi tài liệu mà tác giả tiếp cận được cho đến nay thì vấn đề huy động vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn cũng được đề cập nhiều trên các tạp chí hay các bài nghiên cứu khoa học. Đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về hoạt động huy động tiền gửi của Ngân hàng thương mại được đăng trên các tạp chí và một số đề tài nghiên cứu trong những năm gần đây như: Nguyễn Thị Hiền (2013) nghiên cứu đề tài "Các hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại”, Luận văn thạc sĩ - Học viện Tài chính. Luận văn chỉ đề cập sơ qua về các hình thức huy động vốn, không đi sâu vào lĩnh vực này và cũng không có tính cập nhật trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tác giả thiên về đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Từ Thị Đức (2014) “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Bà Rịa – Vũng Tàu” bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đã nghiên cứu các nội dung nâng cao hiệu quả huy động vốn tương đối đầy đủ và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
5 Luận văn này là cơ sở để kế thừa những cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả huy động vốn và các biện pháp nhằm huy động vốn trên địa bàn tỉnh Long An hiện nay. Nguyễn Thị Thiên Hương (2015), “Huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế - Chi nhánh Đăk Lăk”, Luận văn thạc sĩ Tài chính ngân hàng, Học viện Tài chính. Đối với đề tài này, luận văn cũng đã hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại, nêu các phương thức huy động vốn, quan niệm về hiệu quả huy động vốn, các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn, các nhân tố tác động đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại, kinh nghiệm và bài học của một số ngân hàng. Luận văn phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại Chi nhánh và đánh giá công tác nâng cao hiệu quả huy động vốn của Chi nhánh.
Từ đó đưa ra những giải pháp như: Nhóm giải pháp đa dạng hóa hình thức và phương thức huy động; Xây dựng cơ chế lãi suất huy động vốn linh hoạt; nhóm giải pháp cải thiện cơ cấu nguồn vốn, sáng tạo trong việc cung cấp các sản phẩm của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế; tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, chăm sóc; mở rộng, đa dạng hóa khách hàng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Luận văn Thạc sĩ – Học viện tài chính của tác giả Lê Thanh Hiền (2015) “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội”, trong phần cơ sở lý luận đã nghiên cứu khá chi tiết về các nguồn vốn của NHTM. Tác giả đã nêu ra được các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM. Qua đó phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng.
Tuy có rất nhiều điểm có thể kế thừa từ các nghiên cứu trên nhưng qua tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên, có thể nhận thấy được khoảng trống nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn đã được nghiên cứu khá nhều do tính chất quan trọng của nó cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đa số các đề tài nghiên cứu ở trên thường thực hiện cho cả hệ thống NHTM hoặc từng ngân hàng cụ thể. Kết quả của những nghiên cứu trên đây đã chỉ ra được mặt ưu và nhược điểm của hoạt động huy động vốn, cũng như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác huy động vốn, các nghiên cứu cũng nêu ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc gửi tiết kiệm và tầm quan trọng của 6 marketing trong hoạt động huy động vốn từ đó giúp ngân hàng nắm bắt được được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng và đưa ra những sản phẩm phù hợp.Tuy nhiên đối với mỗi ngân hàng thì thực trạng huy động vốn là khác nhau do đặc điểm thực tiễn phát sinh tại mỗi đơn vị là khác nhau cũng như các nghiên cứu được thực hiện tại một giai đoạn kinh tế khác nhau, tuy cơ sở lý luận và cách tiếp cận của những đề tài trên là đồng nhất. Hầu như các đề tài chỉ phù hợp với chính ngân hàng và giai đoạn được nghiên cứu.
Mặt khác đề tài nhận tiền gửi lại có khá ít các nghiên cứu và trong thời gian qua Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu vực 3 Thành phố Tân An, tỉnh Long An chưa có công trình nào thực hiện nghiên cứu.Vì thế, việc nghiên cứu về hoạt động nhận tiền gửi tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Khu vực 3 Thành phố Tân An, tỉnh Long An là hết sức cần thiết, giúp cho Ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh và có hiệu quả hơn; đặc biệt, nghiên cứu này càng có ý nghĩa trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam vừa trải qua giai đoạn khó khăn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Phân loại nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 1. Vốn tự có Vốn tự có là nguồn lực tự có mà chủ ngân hàng sở hữu và sử dụng vào mục đích kinh doanh theo luật định. Vốn tự có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM song nó lại là yếu tố cơ bản đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Mặt khác, với chức năng bảo vệ của mình,vốn tự có được xem như tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ.
Vốn tự có cũng là căn cứ để tính toán các hệ số đảm bảo an toàn và các chỉ tiêu tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Theo điều 20, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Vốn tự có của NHTM bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản Nợ khác (như chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhận chưa phân phối…)”. Vốn điều lệ Vốn điều lệ được quy định trong điều lệ của NHTM và tối thiểu phải bằng vốn pháp định. Vốn điều lệ là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.
Nguồn hình thành vốn điều lệ phụ thuộc vào tính chất sở hữu của từng loại hình ngân hàng. Đối với ngân hàng thương mại Nhà nước do Nhà nước cấp 100%, đối với ngân hàng thương mại ngoài Nhà nước (NHTM cổ phần…) được hình thành do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phần hoặc các bên tham gia liên doanh đóng góp. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định Vốn đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản cố định để xây dựng nhà cửa, công trình kiến trúc, mua sắm máy móc, trang thiết bị, phương tiện vận tải… phục 8 vụ công tác quản lý, kinh doanh của NHTM. Nguồn hình thành của loại vốn này có thể do ngân sách Nhà nước cấp (đối với NHTM Nhà nước) hoặc tích lũy trong quá trình hoạt động của NHTM.
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Là quỹ được dùng với mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu. Lợi nhuận hàng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt 50% vốn tự có thì sẽ chuyển thành vốn tự có. Các loại quỹ thuộc nguồn vốn chủ sở hữu Được hình thành theo quy định của pháp luật và nghị quyết của đại hội cổ đông, được trích từ nguồn lợi nhuận sau thuế. + Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Đươc trích 5% lợi nhuận sau thuế hàng năm, nhưng số dư của quỹ không được vượt quá vốn điều lệ + Quỹ dự phòng tài chính: Được trích 10% lợi nhuận sau thuế, nhưng số dư của quỹ không được vượt quá 25% vốn điều lệ.
+ Các quỹ khác: Gồm có lợi nhuận chưa phân phối, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ khấu hao tài sản cố định. Thặng dư vốn cổ phần Là phần chênh lệch mà cổ đông phải trả thêm so với mệnh giá của cổ phiếu, để được sở hữu cổ phiếu. Chênh lệch đánh giá lại tài sản Thể hiện giá trị chênh lệch giữa giá trị tài sản của ngân hàng tại thời điểm lập báo cáo tài chính só với thời điểm ghi nhận tài sản vào bảng cân đối của ngân hàng. Lợi nhuận chưa phân phối Là phần thu nhập của ngân hàng được giữ lại trong quá trình kinh doanh.
Vốn huy động Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội. với nhiều hình thức khác nhau.
Tiền gửi thanh toán 9 Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi (trả lãi thấp) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng. Người gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền. với một mức phí thấp.