CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm Tín dụng ngân hàng (gọi tắt là tín dụng) là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các TCKT, cá nhân trong nền kinh tế), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
(Nguồn:Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại của Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh do PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn xuất bản năm 2014) Như vậy tín dụng là hoạt động tài trợ trên cơ sở tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng. Quan hệ tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu (ngân hàng) sang người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn - Sự chuyển nhượng này có kèm theo phí. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng là hoạt động đặc trưng cơ bản nhất của các NHTM, trong đó ngân hàng sử dụng vốn huy động để cho vay trên cơ sở lợi nhuận.
Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập cao nhất cho các ngân hàng. Là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng, HĐTD tác động và chịu sự tác động từ mọi hoạt động ngân hàng khác. Tín dụng là khoản mục tài sản rủi ro nhất của ngân hàng, chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau. Hoạt động tín dụng với sự đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội,.nên nó tham vào quá trình chu chuyển vốn của từng cá nhân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Một ngân hàng có thể cấp tín dụng trên một phạm vi rộng lớn, cho các đối tượng khách hàng thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề và khu n 7 vực địa lý khác nhau. Vì thế, sự phát triển, khả năng sinh lời cũng như những rủi ro tín dụng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, của những yếu tố mang tính vĩ mô của nền kinh tế xã hội cho đến những nhân tố mang tính vi mô từ hoạt động của khách hàng nhận tín dụng. Hoạt động tín dụng ngân hàng tác động to lớn đến sự phát triển và ổn định kinh tế, xã hội của quốc gia, khu vực và thế giới. Chất lượng HĐTD sẽ quyết định tới thu nhập hay tổn thất của một ngân hàng, thậm chí có thể dẫn tới phá sản ngân hàng.
Không những thế, do tính nhạy cảm của hệ thống tài chính, sự suy giảm niềm tin của dân chúng đối với hoạt động của một ngân hàng có thể kéo theo sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính quốc gia, khu vực, kéo theo đó là sự biến động của kinh tế, xã hội. Chính vì những tác động to lớn của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế cũng như những rủi ro tiềm ẩn trong HĐTD mà tính hiệu quả và tính an toàn của tín dụng ngân hàng là đối tượng quan tâm của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng ngân hàng phải tuân theo những quy định khắt khe và sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước (NHNN) được cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật. Tùy theo mức độ phát triển của thị trường, của nền kinh tế mà mỗi quốc gia có những quy định khác nhau đối với HĐTD.
Bên cạnh đó, để đảm bảo tính an toàn và sinh lời, các NHTM đều đưa ra những quy định, quy trình cụ thể đối với HĐTD được hệ thống thành chính sách tín dụng của ngân hàng. Một chính sách tín dụng phải thể hiện được chiến lược tài trợ của ngân hàng đó, với những quy định cụ thể hướng dẫn hoạt động của cán bộ nhân viên các cấp trong toàn hệ thống. Chính sách tín dụng của một ngân hàng phụ thuộc vào môi trường hoạt động, mục tiêu phát triển của ngân hàng trong từng thời kỳ. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như yêu cầu phát triển của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ngày càng đa dạng hóa về loại hình sản phẩm dịch vụ và mang tính quốc tế hóa cao.
Phân loại tín dụng 1. Căn cứ vào thời gian tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm trở lại, thông thường được sử dụng để bổ sung nhu cầu vốn lưu động, vốn sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ hoặc cho vay tiêu dùng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng trên 1 năm đến 5 năm, thông thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu mua sắm, sửa chữa tài sản cố định, xây dựng các công trình qui mô tương đối nhỏ, thời gian hoàn vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng trên 5 năm, thường được tài trợ cho các dự án đầu tư có qui mô vốn lớn, thời gian dài như xây dựng nhà máy, xí nghiệp, công trình giao thông vận tải, phúc lợi công cộng,… xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế.
Căn cứ vào đối tượng cho vay - Tín dụng vốn lưu động: là hình thức tín dụng nhằm bổ sung nhu cầu vốn lưu động của Doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn dự trữ nguyên liệu, sản xuất và lưu thông hàng hoá, đa số khoản tín dụng này mang tính chất ngắn hạn gắn liền với quá trình luân chuyển vốn lưu động. - Tín dụng cố định: là hình thức tín dụng được sử dụng đáp ứng nhu cầu vốn cố định tạo ra tài sản cố định, chủ yếu là tín dụng trung và dài hạn tài trợ cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị. Căn cứ vào tài sản bảo đảm - Tín dụng có bảo đảm có hai loại: + Đảm bảo đối vật: là tín dụng được thể hiện phải có tài sản vật chất dùng làm đảm bảo như tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh đến hạn người đi vay không thanh toán hết nợ thì người cho vay có quyền phát mãi tài sản để thu nợ. + Đảm bảo đối nhân được thực hiện do con người hoặc tổ chức đứng ra đảm bảo mà không cần tài sản cụ thể, chủ yếu dựa vào năng lực tài chính.
- Tín dụng không có đảm bảo: là tín dụng mà khi vay không cần có tài sản đảm bảo, thông thường được áp dụng đối với những khách hàng có uy tín, huy động kinh doanh có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh đảm bảo khả năng thanh toán. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh trong các ngành nghề như: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu, giao thông vận tải, các ngành dịch vụ,… - Tín dụng phục vụ tiêu dùng: được thực hiện cho vay mua sắm hàng hoá, sữa chữa nhà đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt hằng ngày của dân cư. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng - Cho vay bằng tiền là hình thức tín dụng mà khi cho vay dưới hình thức bằng tiền có thể là nội tệ hay ngoại tệ, hình thức này ngày càng phổ biến hơn trong nển kinh tế thị trường. - Cho vay bằng tài sản là hình thức tín dụng khi cho vay dưới hình thức bằng hiện vật như cho thuê tài chính, cho vay phân bón, vật tư giống cây trồng,…trong nông nghiệp.
Căn cứ vào đối tượng hoàn trả - Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà người đi vay trực tiếp hoàn trả vốn vay cho người cho vay. - Tín dụng gián tiếp là hình thức tín dụng mà đi vay không trực tiếp hoàn trả vốn vay cho người cho vay. Căn cứ vào kĩ thuật tín dụng - Tín dụng ứng trước: căn cứ vào hợp đồng tín dụng thoả thuận giữa Ngân hàng với khách hàng. Ngân hàng ứng trước vốn cho khách hàng vay để thực hiện phương thức sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư.
- Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá là nghiệp vụ tín dụng mà Ngân hàng sẽ mua lại các thương phiếu hoặc các chứng từ có giá trước khi thanh toán của chứng từ khi đáo hạn, chênh lệch giữa hai số tiền này chính là lợi tức chiết khấu mà Ngân hàng được hưởng. - Tín dụng thuê mua: đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua hình thức Ngân hàng đứng ra mua máy móc thiết bị, các động sản, bất động sản khác theo yêu cầu khách hàng và nắm giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê. n 10 - Thấu chi là hình thức tín dụng cho phép khách hàng sử dụng vượt quá số dư trong phạm vi hạn mức tín dụng đã thoả thuận trong thời gian nhất định trên tài khoản vãng lai hay tài khoản sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng. - Tín dụng chấp nhận: NHTM tiến hành ký chấp nhận vào thương phiếu, hối phiếu, thực hiện cam kết thanh toán nếu đến hạn người trả tiền không thanh toán thì Ngân hàng chấp nhận sẽ đứng ra thanh toán thương phiếu, hối phiếu.
- Bão lãnh Ngân hàng: là hình thức tín dụng qua chữ ký, thông qua phát hành chứng thư bảo lãnh các NHTM cam kết thực hiện một nghĩa vụ trong tương lai đối với người thụ hưởng bảo lãnh. - Các hình thức tín dụng khác như: đồng tài trợ, cho vay hợp vốn, cho vay liên kết, tín dụng factoring,… 1. Căn cứ vào mục đích sử dụng - Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. - Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệp, thương mại, dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động. - Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn thực hiện cho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.