phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, biểu đồ, Danh mục hình vẽ, sơ đồ, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thƣơng mại. 7 Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Bƣu điện Liên Việt. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Bƣu điện Liên Việt. LV quản trị kinh doanh 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý luận chung về hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu ngày nay, quan hệ quốc tế giữa các nƣớc bao gồm nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật,… ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Trong các mối quan hệ trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng và là cơ sở cho các mối quan hệ khác tồn tại và phát triển. Kết quả của các mối quan hệ kinh tế, chính trị thƣơng mại là hình thành nên các khoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nƣớc khác nhau. Đối với hoạt động ngoại thƣơng thì các đối tác ở các nƣớc khác nhau, do đó có sự khác biệt về ngôn ngữ cũng nhƣ khoảng cách địa lý dẫn đến việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó chính là các ngân hàng thƣơng mại cùng với mạng lƣới hoạt động khắp nơi trên thế giới. LV quản trị kinh doanh Thanh toán quốc tế đã hình thành từ lâu, nhƣng mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lƣợng mua bán, đầu tƣ quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lƣợng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo.
Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia tăng việc sử dụng đồng tiền của các nƣớc để chi trả lẫn nhau. Thanh toán quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia hiện nay. Thanh toán quốc tế có thể đƣợc định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau nhƣ sau: Thứ nhất, theo Đinh Xuân Trình (1996): “Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thƣơng mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nƣớc”. Thứ hai, theo Trầm Thị Xuân Hƣơng (2006): “Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nƣớc với nhau”.
9 Thứ ba, theo Nguyễn Văn Tiến (2014): “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nƣớc này với tổ chức hay cá nhân nƣớc khác, hay giữa một quốc gia này với một tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nƣớc có liên quan”. Từ các định nghĩa trên đây, có thể thấy hoạt động thanh toán quốc tế đƣợc bắt nguồn từ hoạt động ngoại thƣơng, và mục đích chính của hoạt động thanh toán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nƣớc diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả. Trƣớc hết, thanh toán quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thƣơng mại, đầu tƣ, hợp tác quốc tế thông qua mạng lƣới ngân hàng thế giới. Thanh toán quốc tế khác với thanh toán trong nƣớc là ở đây liên quan đến việc trao đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác.
Vì vậy, khi ký kết các hợp đồng mua bán ngoại thƣơng các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của nƣớc nào là tiền tệ tính toán và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính LV quản trị kinh doanh toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến động. Trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu nhƣ không đƣợc sử dụng trực tiếp mà tồn tại dƣới hình thức các phƣơng tiện thanh toán nhƣ thƣ chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ. Thanh toán giữa các nƣớc đều đƣợc tiến hành thông qua ngân hàng và không dùng tiền mặt, nếu có thì chỉ trong những trƣờng hợp riêng biệt. Do vậy, thanh toán quốc tế về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Chúng đƣợc hình thành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thƣơng và các trao đổi tiền tệ quốc tế. Thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của pháp luật và tập quán thƣơng mại quốc tế, đồng thời cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thƣơng và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán. Trong bài luận văn này, khái niệm thứ ba đƣợc sử dụng: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ 10 sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nƣớc này với tổ chức hay cá nhân nƣớc khác, hay giữa một quốc gia này với một tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nƣớc có liên quan” (Nguyễn Văn Tiến 2014, tr15). Trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các Ngân hàng thƣơng mại, Thanh toán quốc tế thƣờng đƣợc phân làm hai lĩnh vực rõ ràng: Thanh toán quốc tế có tính chất mậu dịch: là các khoản thanh toán để phục vụ cho việc luân chuyển sản phẩm hàng hóa dịch vụ giữa các nƣớc: bao gồm thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ vận tải, bƣu chính viễn thông, tài chính ngân hàng…Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thƣơng.
Thanh toán quốc tế có tính chất phi mậu dịch: là những khoản thanh toán không liên quan đến sự vận động của sản phẩm hàng hóa dịch vụ mà nó góp phần thực hiện các mối quan hệ phi mậu dịch giữa các nƣớc với nhau, bao gồm các quan hệ về ngoại giao, xã hội, hợp tác khoa học kỹ thuật … LV quản trị kinh doanh 1.2 Đặc điểm của thanh toán quốc tế 1.1 TTQT liên quan tới đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán Khi tiến hành hoạt động TTQT cần phải xác định 05 vấn đề quan trọng đó là: đồng tiền, địa điểm, phƣơng tiện, phƣơng thức và thời gian thanh toán. Lựa chọn đồng tiền nào là một vấn đề rất quan trọng vì không phải bất kỳ đồng tiền nào cũng có khả năng thực hiện TTQT, mà đồng tiền đó phải mạnh, đƣợc các nƣớc thừa nhận thực hiện trong TTQT, tiếp đến là việc lựa chọn đồng tiền nào cho phù hợp với nội dung cụ thể của hoạt động TTQT, nhằm mang lại hiệu quả cao (thanh toán nhanh, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, đáp ứng đƣợc lợi ích của các bên. Do vậy, khi ký kết các hợp đồng thƣơng mại, tín dụng hay các dịch vụ, các bên đàm phán thƣờng thống nhất về loại ngoại tệ đƣợc dùng trong giao dịch là đồng tiền của nƣớc nhập khẩu, nƣớc xuất khẩu hay nƣớc thứ ba.2 TTQT phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại TTQT phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại mà phần lớn là phục vụ cho các giao dịch trong lĩnh vực ngoại thƣơng. Thanh toán là khâu quan trọng 11 của một quá trình sản xuất và lƣu thông hàng hóa, cụ thể khi hoạt động thanh toán diễn ra đồng nghĩa với việc đảm bảo chắc chắn kết thúc một phần hoặc toàn bộ giá trị của một quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
Nếu công tác TTQT đƣợc tổ chức tốt thì giá trị của hàng hóa trao đổi và dịch vụ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau mới đƣợc thực hiện, góp phần thúc đẩy ngoại thƣơng phát triển. Thông qua đó, TTQT trở thành một nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại trong điều kiện quan hệ quốc tế ngày càng đƣợc mở rộng.3 Gặp nhiều rủi ro do có sự biến động về tiền tệ Khác với thanh toán nội địa, TTQT thƣờng gặp nhiều rủi ro hơn do sự biến động của tiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, sự khác biệt về luật pháp, cơ chế chính sách; do vị trí địa lý giữa các bên tham gia cách nhau nên khó tìm hiểu đƣợc khả năng thanh toán của con nợ,. Do vậy, các hoạt động bảo lãnh ngân hàng, hoạt động tín dụng của các tổ chức tiền tệ - tài chính quốc tế ra đời nhƣ là một hoạt động không thể thiếu hỗ trợ cho hoạt động TTQT. Có thể nói, TTQT là một mắc xích quan trọng trong hoạt động thƣơng mại liên hoàn của một nền kinh tế mở và LV quản trị kinh doanh gắn kết chặt chẽ giữa các giao dịch thƣơng mại quốc tế.
TTQT là cầu nối giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng thông qua chi trả lẫn nhau trong nghiệp vụ TTQT. TTQT đã góp phần chủ yếu để tạo nên sự liên tục của quá trình tái sản xuất và đẩy nhanh quá trình giao thƣơng hàng hóa quốc tế.3 Vai trò của thanh toán quốc tế Ngày nay, hoạt động TTQT chiếm vị trí ngày càng quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của NHTM, vai trò của TTQT đối với NHTM đƣợc thể hiện: Thứ nhất, TTQT là hoạt động trực tiếp tạo một khoản lợi nhuận đáng kể đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng bằng việc cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng, các NHTM thu đƣợc phí dịch vụ chuyển tiền, phí thanh toán L/C, phí bảo lãnh,… Trên thực tế, đối với các NHTM ngày nay, thu nhập từ phí dịch vụ có xu hƣớng ngày một tăng cả về số lƣợng và tỷ trọng trong tổng thu nhập của ngân hàng. Đây cũng chính là mục tiêu quan trọng mà các ngân hàng nỗ lực vƣơn tới.