CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về tài chính vi mô 1. Khái niệm tài chính vi mô Hoạt động TCVM được hình thành từ cuối những năm thập niên 70 của thế kỷ 20, đã có những tác động sâu sắc đến việc cải thiện an sinh xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Do vậy, tài chính vi mô được nhiều tổ chức, các nhóm nghiên cứu, nhà kinh tế học trên thế giới quan tâm, xem xét dưới nhiều gốc độ và đưa ra những quan niệm khác nhau về hoạt động này.
Theo Joanna Ledgerwood tác giả của cuốn Cẩm nang hoạt động tài chính vi mô (1998), thì tài chính vi mô được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho cư dân có thu nhập thấp. Thuật ngữ này đề cập đến dịch vụ tài chính cho các khách hàng có thu nhập thấp. Các dịch vụ tài chính nói chung bao bồm tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và thanh toán. Ngoài vai trò là trung gian tài chính, tài chính vi mô còn cung cấp dịch vụ trung gian mang tính xã hội như hình thành tổ nhóm, phát triển tính tự tin và đào tạo các kiến thức về tài chính.
Tài chính vi mô không đơn giản chỉ là công cụ ngân hàng, nó còn là một công cụ phát triển. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB (2000), thì tài chính vi mô được định nghĩa “là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp, hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ”. Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo – CGAP (2012), có khái niệm về tài chính vi mô như sau: “Tài chính vi mô đề cập đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức cho người nghèo, người có thu nhập thấp cũng như những người khác bị loại trừ khỏi hệ thống tài chính. Tài chính vi mô không chỉ bao gồm một loạt các sản phẩm tín dụng mà còn các sản phẩm khác như tiết kiệm, chuyển tiền và bảo hiểm”.
1 Tại Việt Nam, tài chính vi mô gia nhập từ những năm 1980 đã được các nhóm nghiên cứu và thể chế trong nước quan tâm, đưa ra các khái niệm: Theo Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2017), Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình nghèo các khoản vay rất nhỏ nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức. Còn theo Nghị định số 28/2005/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam, thì: “TCVM được hiểu là tài chính quy mô nhỏ đó là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính quy mô nhỏ, nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tự nguyện, một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình cá nhân có thu nhập thấp đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”. Tại điểm 5, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã đưa ra khái niệm, “Tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”.
Như vậy, khái niệm tài chính vi mô đã được nhiều Nhà nghiên cứu, nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước diễn đạt trong những bối cảnh nền kinh tế xã hội khác nhau của các quốc gia, nhưng chung qui lại có thể hiểu tài chính vi mô là hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính có quy mô nhỏ như: tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm,.và các dịch vụ phi tài chính đến các hộ gia đình và cá nhân thuộc đối tượng người nghèo, người có thu nhập thấp nhằm giúp họ có điều kiện để cải tạo và phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập giúp cải thiện điều kiện sống góp phần cải thiện an sinh xã hội. Khái niệm về tổ chức tài chính vi mô Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB 2000), “Tổ chức TCVM là những tổ chức có hoạt động kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ TCVM”. Trong luật tổ chức tín dụng 2010, “Tổ chức TCVM là loại hình các tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các 1 cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”. Khái niệm về tổ chức tài chính quy mô nhỏ cũng được nêu ra trong Nghị định 28/2005/NĐ-CP, “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân thu nhập thấp”.
Trong Đề án “Phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 6/12/2011, thì tổ chức TCVM bao gồm: các tổ chức TCVM được NHNN cấp phép; các chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Như vậy, có nhiều quan điểm đề cập về tổ chức TCVM, trong bài luận văn này, tác giả chọn quan niệm, Tổ chức tài chính vi mô là các tổ chức TCVM chính thức được NHNN cấp phép, cung cấp các dịch vụ TCVM gồm dịch vụ tài chính và phi tài chính cho người lao động nghèo, người có thu nhập thấp, tham gia thiết thực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của quốc gia. Đặc điểm của hoạt động tài chính vi mô Ủy Ban Basel (2010) đã phân tích về đặc điểm hoạt động TCVM, đề cập đến các nội dung về đối tượng khách hàng, món vay, tài sản thế chấp, phương thức cho vay,…Cũng trong luận án Phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam (2012), tác giả Nguyễn Đức Hải đã nêu ra một số đặc điểm cơ bản của hoạt động TCVM. Với những đặc thù riêng trên phân khúc đối tượng khách hàng, trên quan điểm của tác giả, hoạt động TCVM có những đặc điểm sau: Khách hàng và đối tượng khách hàng của tài chính vi mô chủ yếu là người có thu nhập thấp Các tổ chức TCVM hướng đến phục vụ các đối tượng khách hàng thường là người dân lao động nghèo tại các khu dân cư, những người công nhân có điều kiện khó khăn về cuộc sống đang làm việc trong các công ty, xí nghiệp, hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Họ có thu nhập thấp, khá bấp bênh, không có tài sản để thế chấp vậy nên ít có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ của các ngân hàng thương mại. 1 Về tài sản đảm bảo khoản vay Hình thức cho vay được các tổ chức TCVM thường áp dụng là cho vay tín chấp có sự giới thiệu và xác nhận của CQĐP kết hợp với hình thức bảo lãnh của nhóm vay. Các thành viên trong nhóm vay chịu trách nhiệm chung về việc đôn đốc, nhắc nhở và bảo lãnh khoản vay cho từng thành viên. Việc này nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro cho khoản vay, thay thế cho hình thức thế chấp bằng tài sản đảm bảo.
Đặc điểm khoản vay TCVM hỗ trợ khoản vay nhỏ, với thời hạn ngắn và có những sản phẩm áp dụng theo mùa vụ, hay cho vay khẩn cấp. Đây là chiến lược sản phẩm phù hợp với nhu cầu và khả năng của người có thu nhập thấp, người có việc làm và thu nhập theo mùa vụ trong năm. Nó giúp cho người lao động nghèo đảm bảo khả năng hoàn trả, sử dụng vốn hiệu quả để cải thiện dần điều kiện sống qua từng chu kỳ vay. Và chiến lược này cũng phù hợp với khả năng tài chính của các tổ chức TCVM, mặt khác nó giúp phân tán rủi ro trong cho vay.
Phương thức cho vay theo mô hình nhóm Tổ chức TCVM cho vay theo phương thức nhóm, cụm. Với phương thức này sẽ giúp thuận tiện và tiết kiệm chi phí trong việc triển khai, thực hiện quy trình tín dụng bằng cách làm việc trực tiếp với các đầu mối cụm, nhóm. Mô hình cụm, nhóm cũng là kênh để phát triển khách hàng mới và góp phần chọn lựa khách hàng có uy tín. Mặt khác cách thức này sẽ tạo điều kiện cho các khách hàng, người nghèo, đặc biệt là phụ nữ có cơ hội hòa nhập, chia sẽ và học tập thêm từ cộng đồng về cách thức sản xuất, xây dựng gia đình,… Lãi suất cho vay thường cao hơn các NHTM để bù đắp chi phí Việc cho vay món nhỏ đã đẩy chi phí quản lý khoản vay cao hơn so với các NHTM, do vậy lãi suất của chương trình TCVM thường cao hơn của các NHTM, tuy nhiên các khách hàng vẫn chấp nhận do tính thuận tiện trong việc tiếp cận, giao dịch tại địa phương, lại không phải có tài sản thế chấp.
Và khi tất toán khoản vay thì khách hàng tiếp tục được làm hồ sơ quay vòng vốn mới. Việc hoàn trả được áp dụng theo cách thức chia nhỏ số tiền để góp từng kỳ 1 Cách thức hoàn trả vốn và lãi vay thường được áp dụng theo cách góp đều hàng tuần hoặc tháng. Nó giúp cho khách hàng nghèo có thể chia nhỏ số tiền ra để hoàn trả phù hợp theo thu nhập của gia đình người vay theo tuần hoặc tháng, tránh áp lực phải trả một số tiền vượt khả năng người vay khi đáo hạn hồ sơ. Dịch vụ tiết kiệm luôn đi kèm khoản vay Dịch vụ tiết kiệm đi cùng với các khoản vay.
Khi tham gia vay vốn, khách hàng còn tham gia sản phẩm tiết kiệm, việc góp tiết kiệm sẽ được thực hiện cùng với việc góp trả vốn, lãi hàng kỳ của khoản vay. Điều này sẽ tạo thói quen tiết kiệm cho khách hàng, giúp khách hàng nghèo có một khoản dự phòng khi rủi ro xảy ra trong cuộc sống, mặt khác nó cũng chính là một phần dự phòng cho khoản nợ khi khách hàng mất khả năng chi trả đối với tổ chức TCVM.