phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về Sàn giao dịch nợ. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch nợ VAMC. Chƣơng 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của sàn giao dịch nợ VAMC. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SÀN GIAO DỊCH NỢ 1.
Khái quát chung về sàn giao dịch nợ 1. Một số vấn đề cơ bản về nợ xấu 1. Khái niệm nợ xấu Trên thế giới, việc mua bán nợ xấu đã ra đời từ thập niên 1980-1990 và ngày càng phát triển do tác động của các cuộc khủng hoảng nợ ở Mỹ và Hy Lạp. Lịch sử phát triển thị trƣờng tài chính tiền tệ đã chứng kiến thời kỳ tỷ lệ nợ xấu của các quốc gia tăng cao với nhiều nguyên nhân khác nhau.
Một số quốc gia phát triển nhanh tại châu Á nhƣ Hàn Quốc, Thái Lan,… đã phải đối mặt với tỷ lệ xấu tăng cao sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Có thể thấy, nợ xấu là hiện tƣợng luôn tồn tại trong hoạt động của các ngân hàng trên thế giới và cũng nhƣ ở Việt Nam. Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia thì: Nợ là một thuật ngữ thƣờng đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp nợ về tài sản. Tuy nhiên, nợ cũng có thể đƣợc sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác.
Trong trƣờng hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trƣớc khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó. Các công ty cũng có thể sử dụng nợ nhƣ là một phần trong chiến lƣợc tài chính tổng thể của mình. Nợ xấu thông thƣờng đƣợc hiểu là các khoản nợ dƣới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thƣờng xảy ra khi khách hàng vay tuyên bố phá sản hoặc tẩu tán tài sản. Hiện nay, nợ xấu đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, có thể kể đến nhƣ: - Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì nợ xấu là các khoản nợ dƣới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu 8 hồi vốn của chủ nợ, điều này thƣờng xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thƣờng quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp [6]. - Theo nhóm chuyên gia tƣ vấn Advisory Expert Group (AEG) thì: Một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả đủ từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ [22]. Nhƣ vậy, nợ xấu về cơ bản cũng đƣợc xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với quan điểm này, nợ xấu đƣợc tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả đƣợc nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ. - Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣa ra định nghĩa về nợ xấu nhƣ sau: Một khoản cho vay đƣợc coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dƣới 90 ngày nhƣng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ đƣợc thực hiện đầy đủ (ngƣời vay phá sản). Sau khi khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế [32]. 9 - Theo Ngân hàng trung ƣơng Châu Âu (ECB), nợ xấu đƣợc hiểu theo hai khía cạnh sau: Khía cạnh thứ nhất, nợ xấu là những khoản vay không có khả năng thu hồi: (i) những khoản nợ hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thƣờng từ ngƣời mắc nợ; (ii) những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc đƣợc với ngƣời mắc nợ hoặc không thể tìm đƣợc ngƣời mắc nợ; (iii) những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
Khía cạnh thứ hai, nợ xấu là những khoản vay có thể không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng. Những khoản nợ này không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đƣa ra thế chấp không đủ trả nợ. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không thể thu hồi đầy đủ toàn bộ khoản vay của khách hàng. Các trƣờng hợp liên quan tới khoản nợ này: (i) những khoản nợ mà khách hàng vay đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhƣng phần còn lại không thể đƣợc đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản đƣợc chuyển để thanh toán những giá trị còn lại không đủ để thanh toán đầy đủ khoản nợ; (ii) những khoản nợ mà khách hàng vay khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nhƣng không thể thanh toán đƣợc khoản nợ trong thời gian thỏa thuận gia hạn đó; (iii) những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để thanh toán khoản nợ hoặc tài sản thế chấp này không đƣợc chấp thuận dẫn tới khách hàng vay không thể thanh toán đƣợc khoản nợ; (iv) những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố khách hàng vay bị phá sản nhƣng phải bồi hoàn dƣ nợ.
Tóm lại, qua các quan điểm, khái niệm trên của các tổ chức, ngân hàng trên thế giới có thể rút ra điều kiện một khoản nợ được coi là nợ xấu khi: (i) khách hàng vay quá hạn trả nợ và (ii) khách hàng vay không có khả năng trả nợ. Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi. Ảnh hưởng của nợ xấu - Ảnh hưởng đối với doanh nghiệp có nợ tồn đọng Áp lực của một doanh nghiệp có nợ tồn đọng là vô cùng to lớn do các khoản nợ sẽ tạo ra những chi phí không mong đợi và sẽ ăn mòn dần vốn của doanh nghiệp. Trên thực tế lãi suất đối với khoản vay đƣợc gia hạn thƣờng gấp 1,5 lần lãi suất cho vay làm cho chi phí đối với khoản vay của doanh nghiệp tăng lên, trong khi doanh nghiệp đã không trả đƣợc khoản lãi vay bình thƣờng thì để trả khoản lãi phạt này dƣờng nhƣ càng khó khăn hơn.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp không chỉ vay vốn ở ngân hàng mà còn vay ở rất nhiều nơi khác, do đó khi một khoản vay đƣợc coi là khó trả thì dẫn đến hậu quả là các khoản vay còn lại cũng đều đƣợc coi là khó trả và lúc này doanh nghiệp không chỉ bận tâm về chủ nợ là ngân hàng mà phải đối mặt với tất cả các chủ nợ khác, mọi quyết định, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều bị tác động. Trên danh nghĩa thì chủ nợ không có quyền trong quyết định của doanh nghiệp, song đứng trƣớc khả năng khoản nợ của mình không đƣợc trả chủ nợ cũng tìm mọi cách để giảm thiểu rủi ro này, bằng cách này hay cách khác, các chủ nợ không nhân nhƣợng trong việc thu hồi nợ, thậm chí có thể đẩy doanh nghiệp đến phá sản để thu hồi nợ. Trong trƣờng hợp này theo Luật Phá sản, khi một doanh nghiệp mất khả năng chi trả, doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản, vì vậy khả năng này hoàn toàn có thể xảy ra. Dƣới sức ép của ngân hàng, của các chủ nợ khác, doanh nghiệp buộc bị tuyên bố phá sản vì khi đó, họ đƣợc trả nợ trƣớc, đó là biện pháp tốt đối với các chủ nợ để thu hồi nợ, nhƣng hậu quả của việc phá sản doanh nghiệp là rất lớn.
Chủ doanh nghiệp phá sản sẽ khó để có thể làm lại từ đầu khi mà các đối tác biết rằng ngƣời ấy là chủ một doanh nghiệp bị phá sản, toàn bộ công nhân viên của doanh nghiệp thất nghiệp, tạo gánh nặng cho gia đình và cho cả xã hội. 11 Đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc, nợ xấu là một trong những cản trở trong tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nƣớc, làm ảnh hƣởng đến quá trình sắp xếp, cải tổ hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực này, từ đó làm ảnh hƣởng đến quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nói chung. - Ảnh hưởng đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng Ảnh hƣởng của các khoản nợ xấu đến các tổ chức tín dụng là rất lớn, một tác động lớn đối với tổ chức tín dụng khi có nợ xấu là làm giảm hiệu quả tín dụng và làm tăng chi phí cho tổ chức tín dụng. Tỉ lệ nợ xấu là một trong những con số đƣợc đƣa vào để tính hàng loạt chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng tín dụng của ngân hàng nhƣ: Nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ, tỉ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu, tỉ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất.
Hoạt động tín dụng kém hiệu quả cũng sẽ làm ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Không những thế các chi phí phát sinh do nợ xấu gây ra là rất lớn, nó bao gồm cả chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lí nợ xấu và các chi phí khác liên quan. Những chi phí này làm giảm thiểu đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh. Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ và giảm lòng tin của ngƣời gửi tiền, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức tín dụng.