CHƯƠNG 1 CO SỎ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỘNG CHO VAY D ự ÁN ĐẦU T ư CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề co bản về dự án đầu tư 1. Khái niệm dụ án đầu tư Đầu tư là hoạt động rất quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của mồi quốc gia cũng như mỗi doanh nghiệp. Xét trên góc độ quốc gia, đầu tư là tiền đề để thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.
Đầu tư được coi là động lực của sự phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng của mọi quốc gia trên thế giới. Xét trên góc độ doanh nghiệp, vai trò của đầu tư được thể hiện ngay từ giai đoạn hình thành doanh nghiệp khi chủ doanh nghiệp bỏ vốn, công sức. để xây dựng cơ sở vật chất đầu tiên cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thế hiểu: “Đầu tư là quả trình sử dụng các nguồn lực, nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một thời gian xác định ” [12, tr.
Tuy nhiên, đế đầu tư đạt được mục tiêu đề ra, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế, đồng thời mang lại lợi ích cho nhà đầu tư thì khâu quan trọng đầu tiên là phải lập dự án đầu tư trên cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn. Dự án đầu tư là kim chỉ nam, là cơ sở vững chắc, là tiền đề cho việc thực hiện các công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn. Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về dự án đầu tư. Theo quan điếm của một số nước khác và to chức nước ngoài: - Theo từ điển Oxford của Anh: Dự án (project) được định nghĩa là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra đe hành động.
- Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991), dự án được định nghĩa là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc, bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau. 10 - Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) - một định chế tài chính đa quốc gia nổi tiếng trong lĩnh vực tài trợ dự án ở khắp nơi trên thế giới —đã đưa ra khái niệm về dự án như sau: “Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định”. Theo quan điểm tại Việt Nam: Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đàu tư và xây dựng có đề cập: “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định”. Sau một thời gian thực hiện việc quản lý đâu tư và xây dựng theo tinh thân Nghị định số 52/1999/NĐ-CP, khái niệm dự án đầu tư đã được khái quát hóa và khái niệm này đã được thể hiện trong Luật đầu tư của Việt Nam số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ von trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đâu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thê, trong khoảng thời gian xác định Dù được xem xét dưới góc độ nào thì dự án đâu tư cũng bao gôm các thành phần chính như sau: - Mục tiêu của dự án: Mục tiêu phát triển thể hiện ở sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của quốc gia, những lợi ích mà dự án sẽ mang lại cho nền kinh tế xã hội.
Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tư thu được từ dự án. Những mục tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể như tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư. Ket quả của dự án có thể lượng hóa được (hay đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận.) mà cũng có thể không lượng hóa được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng.) 11 - Các hoạt động của dự án: Dự án phải nêu rõ những nhiệm vụ và hành động cụ thể phải thực hiện để tạo ra kết quả nhất định, thời gian cần thiết để hoàn thành và sự phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện những nhiệm vụ và hành động đó. Các hoạt động đó có mối liên hệ với nhau và tất cả đều hướng tới sự thành công của dự án và các hoạt động đó diễn ra trong một môi trường không chắc chẳn.
Môi trường dự án không phải môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai. - Các nguồn lực của dự án: Dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực chính về vật chất, tài chính, con người,. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án. Một dự án bao giờ cũng được xây dựng và thực hiện trong sự giới hạn về nguồn lực.
Vai trò của dụ án đầu tu Dự án đầu tư tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực mới cho sự phát triển, là phương tiện chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế, giải quyêt quan hệ cung câu về vốn, về sản phẩm dịch vụ trên thị trường, góp phần không ngừng nâng cao đời sổng vật chất và tinh thần cho nhân dân, cải tiến bộ mặt kinh tế xã hội cho đât nước. DAĐT chính là cơ sở quan trọng để chủ đầu tư và các nhà đầu tư liên quan xem xét ra quyết định đầu tư. Đổi với chủ đầu tư: DAĐT là một căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có nên tiến hành đầu tư dự án hay không. DAĐT là công cụ để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư cho dự án.
DAĐT là phương tiện để chủ đầu tư thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vôn. DAĐT là cơ sở để xâv dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đôc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư. DAĐT là căn cứ quan trọng để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại và vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư và khai thác công trình. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: DAĐT là cơ sở quan trọng để các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đâu tư.
Là một trong những cơ sở pháp lý để toà án xem xét, giải quyêt khi có sự tranh chấp giữa các bên tham gia đầu tư trong quá trình thực hiện dự án sau này. Đổi với nhà tài trợ (các ngân hàng thương mại): DAĐT là căn cứ quan trọng để các cơ quan này xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự án hay không và nêu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất cho nhà tài trợ. Là cơ sở để lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo tiến độ thực hiện đâu tư, đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn vay. Đặc điểm của dự án đầu tư - Dự án đầu tư có mục đích, kết quả xác định Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện, trong mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập và tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.
Tât cả các dự án đêu phải có kết quả được xác định rõ. Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung vê thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao. - Dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn Dự án là một sự sáng tạo, cũng giống như các thực thể sổng, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đâu và kêt thúc. Dự án không kéo dài mãi mãi mà sẽ có thời điểm kết thúc của dự án và khi dự án kêt thúc, kết quả dự án được trao cho bộ phận quản lý vận hành.
- Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc dáo Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kêt quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. 13 - Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người thụ hưởng dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu câu của chủ đâu tư mà sự tham gia của các thành phân trên cũng khác nhau.
Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuvên có quan hệ với nhau và cùng phối họp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. - Môi trường hoạt động “va chạm ” Có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức.
Dự án “cạnh tranh" lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị. Trong quản lý, nhiều trường họp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai mệnh lệnh mâu thuẫn nhau.