phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia thành 5 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 5 Kết luận Chƣơng 1 Chƣơng 1 trình bày tầm quan trọng của hoạt động cho vay doanh nghiệp và việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Bản Việt- Chi nhánh Bình Dƣơng. Đề ra những mục tiêu nghiên cứu và phƣơng pháp nhằm đánh giá thực trạng hoạt động cho vay DN và xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động cho vay DN. Luận văn đã sử dụng kết hợp phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng để đạt đƣợc các mục tiêu này.
6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 2. Các khái niệm DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Luật DN, 2020). Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN, 2016).
TCTD cho vay là TCTD đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các TCTD. Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác là việc TCTD cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, DN tƣ nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ DN tƣ nhân (Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN, 2016). Vai trò của hoạt động cho vay doanh nghiệp Vốn vay của NHTM góp phần đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đƣợc liên tục và tạo điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay đòi hỏi các DN phải luôn cải tiến kỹ thuật, đa dạng hóa sản phẩm, đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển.
Trên thực tế, hầu hết các DN đều không thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu SXKD của mình. Do đó, DN thƣờng phải huy động nguồn vốn từ các kênh khác nhau, trong đó có vay vốn NHTM. Vốn vay của NHTM góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho hoạt động SXKD của DN đƣợc liên tục và ngày càng mở rộng. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế đang trong quá trình hồi phục sau đại dịch, các DN phải đối mặt với nhiều khó khăn thì vốn vay NH càng có nhiều ý nghĩa và giúp các DN có thể duy trì sản xuất.
Bên cạnh đó, việc cho vay DN góp phần nâng cao khả năng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn của họ. Thực tế, các NH thƣờng chỉ cho vay đối với các 7 DN có khả năng tài chính lành mạnh, kinh doanh hiệu quả đảm bảo đủ khả năng trả nợ vay. Do đó, khi các DN muốn vay vốn NH thì phải có phƣơng án kinh doanh khả thi. Không chỉ quan tâm đến việc thu hồi đủ vốn, các DN còn phải tìm cách để sử dụng vốn vay một cách hiệu quả, tăng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả đƣợc nợ vay và kinh doanh có lãi.
Trong quá trình vay vốn, ngân hàng cũng thực hiện kiểm soát trƣớc, trong và sau khi giải ngân buộc các DN phải sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả. Ngoài ra, vốn vay của NH cũng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ƣu cho DN. Trong nền kinh tế hiện nay, hầu hết các DN đều sử dụng một phần vốn vay để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để DN tối ƣu hóa hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với các DN, do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để mở rộng SXKD là rất khó khăn và nếu có sử dụng thì giá vốn sẽ cao, sản phẩm sẽ khó cạnh tranh trên thị trƣờng. Vì vậy, để đạt đƣợc hiệu quả, các DN phải có một cơ cấu vốn tối ƣu, kết hợp giữa nguồn vốn tự có và vốn vay ngân hàng nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất. Cuối cùng, việc NH cho vay góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DN. Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trƣờng.
Do đó, muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt đối với các DN, do còn nhiều hạn chế nên việc cạnh tranh và chiếm ƣu thế trên thị trƣờng so với các DN lớn trong nƣớc và thế giới là một vấn đề hết sức khó khăn. Xu hƣớng hiện nay của các DN là tăng cƣờng liên kết, liên doanh, tập trung vốn đầu tƣ và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, để có thể thực hiện đƣợc các việc trên thì DN thƣờng gặp phải khó khăn do nguồn vốn tự có hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp.
Điều này dẫn đến việc DN phải mất rất nhiều năm mới có thể thực hiện đƣợc nhƣng khi đó thì cơ hội để đầu tƣ phát triển không còn nữa. Nhƣ vậy, để có thể kịp thời đáp ứng nhu cầu đầu tƣ, các DN đều tìm đến tín dụng của ngân hàng. Chỉ có vốn vay của ngân hàng mới có thể giúp cho DN thực hiện đƣợc mục tiêu của mình là mở rộng kinh doanh, chiếm lĩnh thị trƣờng cạnh tranh. Các hình thức và điều kiện cho vay doanh nghiệp Theo Thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN quy định cụ thể về hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều hình thức.
TCTD thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phƣơng thức cho vay nhƣ sau: Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, TCTD và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai TCTD trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phƣơng án, dự án vay vốn. Cho vay lưu vụ: Là việc TCTD thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lƣu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, TCTD và khách hàng thỏa thuận dƣ nợ gốc của chu kỳ trƣớc tiếp tục đƣợc sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhƣng không vƣợt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp.
Cho vay theo hạn mức: TCTD xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dƣ nợ cho vay tối đa đƣợc duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, TCTD thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, TCTD xem xét xác định lại mức dƣ nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dƣ nợ này. Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận.
TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhƣng không vƣợt quá 01 (một) năm. Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: TCTD chấp thuận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa đƣợc duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm. Cho vay quay vòng: TCTD và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng đƣợc sử dụng dƣ nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trƣớc cho 9 chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhƣng thời hạn cho vay không vƣợt quá 03 (ba) tháng.
Cho vay tuần hoàn: TCTD và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện: Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm một khoảng thời gian nhất định đối với một phần hoặc toàn bộ số dƣ nợ gốc của khoản vay. Tổng thời hạn vay vốn không vƣợt quá 12 tháng kể từ ngày giải ngân ban đầu và không vƣợt quá một chu kỳ hoạt động kinh doanh. Tại thời điểm xem xét cho vay, khách hàng không có nợ xấu tại các TCTD. Trong quá trình cho vay tuần hoàn, nếu khách hàng có nợ xấu tại các TCTD thì không đƣợc thực hiện kéo dài thời hạn trả nợ theo thỏa thuận.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều hình thức cho vay khác nhau phù hợp với nhu cầu của nhiều nhóm khách hàng. Khi DN lựa chọn đƣợc hình thức cho vay phù hợp với sẽ động lực phát triển, hạn chế đƣợc áp lực trả nợ gốc. Tổng quan về hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm về hiệu quả cho vay tại ngân hàng thương mại Cho vay là hoạt động mang lại nguồn thu rất lớn cho NHTM nhƣng kèm theo đó là nguy cơ rủi ro cũng vô cùng lớn.
Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động cho vay ảnh hƣởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của NHTM. Do đó, để có thể đánh giá đƣợc hoạt động cho vay của một ngân hàng trong một thời gian nhất định cần phải nắm rõ khái niệm về hiệu quả cho vay. Có thể đƣa ra định nghĩa tổng quát về hiệu quả hoạt động cho vay DN tại NHTM đứng theo góc độ đánh giá của ngân hàng nhƣ sau: “Hiệu quả hoạt động cho vay DN là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xác nhu cầu về vốn cho DN nằm trong khả năng của ngân hàng và chính sách phát triển kinh tế của đất nƣớc, từ đó mang lại lợi nhuận sau khi trừ đi các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cho vay” (Lê Thành Trung, 2019). Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 2.
Chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay doanh nghiệp 10 a.