CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Theo từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997 thì nhân lực là sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất.
Theo sách Quản trị nhân lực, ĐH Kinh tế quốc dân, Hà Nội: Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực. Theo tác giả thì: Nhân lực là sức lực của mỗi con người, bao gồm sức mạnh cơ bắp, trí não và thần kinh của con người được sử dụng để phục vụ đời sống cho bản thân và tổ chức. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Có ý kiến cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức nhất định”. Tác giả đồng ý với nhận định này. Nhu cầu của người lao động Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật Luan van 9 chất tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn. Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra sự căng thẳng, từ đó tạo ra các áp lực hoặc động cơ thúc đẩy trong các cá nhân.
Những áp lực này tạo ra việc tìm kiếm các hành vi để tìm đến những mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được thì sẽ làm giảm sự căng thẳng [7, tr. Khi nghiên cứu về động lực thúc đẩy người lao động, chúng ta nhận thấy người lao động hành động để thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ. Trong khi những nhà quản trị thì lại quan tâm đến việc đạt tới các mục tiêu của tổ chức. Để những nỗ lực của người lao động hướng tới các mục tiêu của tổ chức thì nhà quản trị phải gắn việc đạt tới các mục tiêu của tổ chức với việc thỏa mãn các nhu cầu cá nhân của người lao động.
Động cơ Trong cơ học, động cơ là thiết bị dùng để biến đổi một dạng năng lượng nào đó thành cơ năng. Còn trong kinh tế, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Theo quản trị học, động cơ ám chỉ cả nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài của con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. Động cơ ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của nhân viên, một phần công việc của nhà quản trị là định hướng và khơi dậy động cơ của nhân viên nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức [3, tr.
Theo tác giả, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động gắn liền với việc thoả mãn nhu cầu của con người. Động cơ là mục tiêu chủ quan của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra, nó xác định và giải thích cho hành vi. Động cơ rất trừu tượng và khó xác định do yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội nên động cơ thường được che dấu. Nó luôn biến đổi theo môi trường sống và thời gian.
Để nắm bắt được động cơ thúc đẩy người lao động cần phải xét đến từng thời điểm, môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân người lao động. Có khi phần thưởng vật chất có Luan van 10 tác động tích cực đến việc thúc đẩy người lao động. Trong nhiều trường hợp, phần thưởng tinh thần lại có tác dụng thúc đẩy lâu dài hơn. Động lực thúc đẩy Về phương diện cơ học, động lực là năng lượng làm cho máy móc chuyển động.
Trong kinh tế, động lực là sự khao khát, sự tự nguyện của con người nhằm tăng cường mọi nỗ lực để đạt mục tiêu, kết quả cụ thể nào đó. TS Bùi Anh Tuấn thì cho rằng động lực lao động là những nhân tố kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [10]. Động lực thúc đẩy người lao động là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến.
Động lực được hình thành bởi nhu cầu và lợi ích. Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển. Lợi ích là những nhu cầu được thỏa mãn [8]. Tác giả đồng ý với nhận định rằng: Động lực thúc đẩy người lao động là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến.
Điểm xuất phát của động lực thúc đẩy là nhu cầu của người lao động. Tuy nhiên, nhu cầu là nguyên nhân của hành vi và cũng là kết quả của hành vi. Nhu cầu phụ thuộc vào môi trường hoạt động của con người. Sự thỏa mãn nhu cầu này có thể dẫn đến ham muốn thỏa mãn nhu cầu khác.
Vì vậy, nhu cầu bao giờ cũng có trước và nhu cầu sau luôn cao hơn nhu cầu trước. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Sự khác nhau cơ bản giữa động cơ và động lực lao động là động cơ trả lời câu hỏi vì sao người lao động làm việc, còn động lực lao động lại trả lời câu hỏi, vì sao người lao động làm việc cho tổ chức tốt hay không tốt. Luan van 11 Mối quan hệ giữa động cơ và động lực giúp các nhà quản trị tìm ra các biện pháp tạo động lực cho người lao động một cách có hiệu quả nhờ việc nắm bắt được động cơ của họ.
Nâng cao động lực thúc đẩy Nâng cao động lực được hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp, công cụ, nghệ thuật quản lý tác động lên người lao động nhằm thúc đẩy họ phấn khởi, hăng say, tự nguyện hơn khi làm việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức và người lao động một cách có hiệu quả. Các học thuyết liên quan Như chúng ta đã biết là giữa nhu cầu, động cơ và động lực có mối quan hệ với nhau. Vì vậy, để nghiên cứu các yếu tố tạo và nâng cao động lực thì không thể không nói đến các vấn đề liên quan. Sau đây tác giả bắt đầu nghiên cứu vấn đề này.
- Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham F.370-396] trích trong [3, tr.204] cho rằng con người được thúc đẩy bởi nhiều nhu cầu khác nhau và những nhu cầu này được phân cấp theo 5 thứ bậc theo một trật tự xác định. Đó là nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu quan hệ xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện. Những nhu cầu cơ bản nhất (phần dưới tháp nhu cầu) phải được thỏa mãn trước những nhu cầu ở bậc cao hơn. Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì người ta sẽ hướng đến nhu cầu ở bậc cao hơn.
Người lãnh đạo có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ, biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn và tận tụy hơn khi thực hiện nhiệm vụ. Luan van 12 Hình 1.1: Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow Trong một doanh nghiệp nhu cầu cơ bản có thể được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt và công bằng, cung cấp bữa ăn trưa miễn phí, bảo đảm các khoản phúc lợi. Để đáp ứng nhu cầu an toàn, nhà quản lý cần bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, công việc được duy trì ổn định và đối xử công bằng đối với nhân viên. Để đáp ứng nhu cầu quan hệ, người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu, khuyến khích mọi người tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanh nghiệp, cần có các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ (hoạt động tinh thần).
Các nhà quản lý cần có cơ chế đánh giá kết quả thực hiện công việc (đánh giá thành tích) và chính sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết quả thành đạt của cá nhân một cách rộng rãi. Người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, được đề bạt vào những vị trí công việc mới có mức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn. Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân. Đồng thời, người lao động cần được đào tạo, được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp hoặc tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp (đào tạo).
Như vậy, người đứng đầu một tổ chức cần tùy hoàn cảnh cụ thể để vận Luan van 13 dụng thuyết này vào việc phát hiện nhu cầu của từng nhân viên, hình thành và phát triển kỹ năng khuyến khích nhân viên một cách thích hợp và có dụng ý. - Thuyết ERG (Existence, Relatedness, Growth) [3,tr.205] Clayton Aldefer đơn giản hóa học thuyết của Maslow bằng thuyết ERG. Có ba nhóm nhu cầu cơ bản của con người là nhu cầu về sự sinh tồn, về quan hệ giao tiếp và về sự phát triển. Aldefer thừa nhận các cá nhân đều thỏa mãn nhu cầu từ thấp đến cao.
Nếu nhu cầu ở mức cao không được đáp ứng đủ, khao khát thỏa mãn những nhu cầu cấp dưới của mô hình sẽ tăng cao. Các nhà quản trị có thể ứng dụng thuyết này trong việc nâng cao động lực thúc đẩy. Trước tiên cần quan tâm đến nhu cầu về tiền lương của người lao động. Tiếp theo là thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của họ (hoạt động tinh thần, môi trường làm việc).
Các nhà quản lý cần có cơ chế đánh giá kết quả thực hiện công việc và chính sách khen ngợi hợp lý (đánh giá thành tích).