CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH vụ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG TẠI NGẲN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm về khách hàng Theo Business Edge (2002), khách hàng là những người chúng ta phục vụ dù họ có trả tiền cho dịch vụ của chúng ta hay không. Khách hàng của ngân hàng đó chính là cá nhân hoặc tổ chức thường xuyên giao dịch và sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thưong mại (NHTM). Tùy theo, nhu cầu mà mỗi cá nhân mà họ có thể sử dụng một hoặc một số sản phẩm dịch vụ nhất định của NHTM, nếu những người này sử dụng dịch vụ của ngân hàng cảm thấy hài lồng thì họ sẽ là những khách hàng trung thành vói ngân hàng. Việc xác định khách hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
Căn cứ vào đặc điểm, khách hàng của NHTM được phân loại như sau: - Khách hàng cá nhân: là cá nhân một người hoặc một nhóm người có nhu cầu sử dụng hoặc có thể là đang sử dụng những sản phẩm dịch vụ do NHTM cung cấp. Khi sử dụng những sản phẩm dịch vụ đó thì sẽ phục vụ cho mục đích của cá nhân khách hàng hoặc mục đích chung của gia đình của khách hàng. Khách hàng cá nhằn sẽ được chia làm 2 loại là: Khách hàng cá nhân nội bộ và khách hàng cá nhân bên ngoài - Khách hàng cá nhân nội bộ: được hiểu là các cá nhân hoặc có thể là nhân viên của của khách hàng hoặc cũng có thể là những cá nhân có liên quan đến những công việc có tính chất phụ thuộc lẫn nhau. Những người này có thể là những người thuộc các công ty phân phối và những người có cung cấp những sản phẩm liên kết với NHTM.
- Khách hàng cá nhân bên ngoài: là những khách hàng cá nhân bên ngoài không thuộc về nội bộ trong ngân hàng nhưng lại là người có tính chất liên kết với NHTM. 6 Họ có thể là những người mua bán bất động sản, những người vay tiền hay những người gửi tiền, và những người khách hàng cá nhân bên ngoài thường được NHTM hướng đến như là mục tiêu cuối cùng. Khách hành tổ chức: là tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài nước, tổ chức kinh tế hoặc phi kinh tế. Khách hành này có số lượng ít, giao dịch ít nhưng lượng ngoại tệ hay tiền giao dịch lớn.
Đây cũng là đối tượng có kiến thức và trình độ am hiểu kỹ về ngân hàng và khi quyết định lựa chon dịch vụ thường kéo dài hơn khách hàng cá nhân.2 Khái niệm ve dịch vụ khách hàng Theo Jamier (2002), «Dịch vụ khách hàng là một chuỗi các hoạt động được cung cấp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng, hay sản phẩm hoặc dịch vụ đã đáp ứng được mong đợi của khách hàng». Dịch vụ khách hàng có thể thực hiện thông qua kỹ năng của nhân viên như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, qua ngôn ngữ, cử chỉ và tư thế. Dịch vụ khách hàng là một hoạt động không thể thiếu của một tổ chức vì hầu hết nó tạo thành mối liên kết trực tiếp duy nhất giữa khách hàng và ngân hàng. Nó bao gồm con người, quy trình cũng như công nghệ để cung cấp các dịch vụ CSKH một cách hiệu quả cho nhiều khách hàng khác nhau.
Khách hàng thắc mắc về dịch vụ, họ mong đợi rằng ngân hàng sẽ giải quyết những vấn đề thông qua bộ phận dịch vụ khách hàng. Nếu nhìn một cách tổng thể, dịch vụ khách hàng không đánh giá hành vi của từng đối với một khách hàng riêng lẻ mà là toàn bộ dịch vụ CSKH của ngân hàng đối với khách hàng của mình (Entel và công sự, 2007). Một số nghiên cứu gần đây cũng cho rằng, việc thu hút khách hàng mới sẽ tốn kém hơn việc giữ chân những khách hàng hiện có. Do đó, dịch vụ CSKH tốt có thể dẫn đến việc kinh doanh lặp lại từ khách hàng, thậm chí có thể nâng cao hình ảnh thương hiệu của một ngân hàng cũng như phân biệt ngân hàng với đối thủ cạnh tranh.3 Dịch vụ châm sóc khách hàng tạì Ngân hàng thương mại ỉ.
ỉ Khái niệm ve dịch CSKH tại ngân hàng thương mại CSKH được hiểu là dịch vụ cung cấp cho khách hàng trước và sau khi mua hàng. CSKH là những gì mà ngân hàng có thể làm được để thoả mãn những nhu cầu mong đợi của khách hàng, làm cho họ cảm thấy hài lòng và có xu hướng gắn bó sử dụng sản phẩm dịch vụ được lâu dài hon. Đầu tư CSKH là một chiến lược lâu dài và có tính đầu tư. CSKH còn thể hiện qua thái độ thân thiện và lịch sự với những khách hàng.
Để thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng và làm cho khách hàng ngày càng hài lòng hon về những sản phẩm và dịch vụ của NHTM được xem mục tiêu dài hạn để mỗi NHTM duy trì sự phát triển bền vững. Có thể nói CSKH cần được rà soát chú trọng thưong xuyên liên tục không ngừng nghỉ. CSKH là hoạt động được xem là chiến lược cạnh tranh giúp NHTM tiếp cận và giữ khách hàng. Đầu tư mảng CSKH được xem là các khoản chi phí đầu tư mang tầm chiến lược và có tính chất lâu dài.
CSKH là một phần quan trọng trong hoạt động marketing và ngày nay, việc chăm sóc phục vụ KH không chỉ là hỗ trợ qua điện thoại truyền thống. Email, SMS, gửi thư tay và mạng xã hội là những phưong thức chính có thể áp dụng trong thời đại này. CSKH là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho các NHTM thành công. Nó giúp NHTM có một danh sách KH trung thành và sẵn sàng chi nhiều tiền hon.2 Mục đích và yêu cầu của dịch vụ CSKH Dịch vụ CSKH mang lại sự tin cậy và hài lòng cho khách hàng thông qua những việc chăm sóc phục vụ họ theo cách mà khách hàng mong muốn nhưng cần phải cân đối và đảm bảo lợi nhuận cho NHTM để từ đó nhà quản trị ngân hàng có những chiến lược hợp lý và phù hợp vói từng loại khách hàng.
Yêu cầu của dịch vụ CSKH cần đảm bảo các nội dung sau: Công tác tổ chức và quản lý cần được chuyên môn hóa từng phòng ban, bộ phận và nhân viên; CSKH cần được thực hiện theo thực tế và quy mô của chi nhánh; Quyền và trách nhiệm của nhân sự CSKH cần phân chia 8 rõ ràng. Nâng cao nhận thức và trình độ thường xuyên chính là trách nhiệm của nhà quản trị chi nhánh và cả nhân viên làm việc.3 Vai trò của dịch vụ CSKH Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ như hiện các NHTM sẽ có được nhiều những lợi thể cạnh tranh như có thể mua công nghệ để tạo ra được những sản phẩm tưong tự nhau, nhưng việc CSKH tốt hay không còn phải phụ thuộc vào những chính sách chăm sóc mà NHTM đó mang lại Càng nhiều NHTM thì khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn hơn. Việc sử dụng công cụ hạ giá hoặc định giá thấp hơn những đối thủ cạnh tranh đã trở nên lỗi thời. Chính vì thế mà NHTM không thể sử dụng bài toán đại hạ giá để xem như một vũ khí cạnh tranh mà phải xây dựng cho mình một chính sách CSKH một cách linh hoạt, vừa đảm bảo được tổng lượng hao phí vừa phải đảm bảo NHTM kinh doanh có lãi.
CSKH ngày nay càng có vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM vì: Việc CSKH sẽ tạo ra được một lượng khách hàng trung thành và khi họ sử dụng những dịch vụ ngân hàng cộng thêm sự chăm sóc hỗ trợ khách hàng hết lòng. Sự hài lồng của khách hàng sẽ giúp NHTM tránh phải bị mất khách hàng khi bị các ngân hàng khác lôi kéo chào kéo những sản phẩm dịch vụ và những lời đề nghị hấp dẫn hơn. Khi có được những khách hàng trung thành thì khi NHTM có những sản phẩm mới hơn sẽ giúp cho NHTM dễ đàng tiếp cận được những khách hàng tiềm năng này, và khách hàng này cũng dễ dàng tiếp cận được những sản phẩm mới mà NHTM mang lại cho khách hàng trung thành của mình; Đối với việc CSKH tốt sẽ giúp cho ngân hàng quảng cáo được miễn phí vì nhờ những khách hàng trung thành sẽ quảng cáo được cho những người khác sử dụng những dịch vụ bên ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Còn ngược lại nếu việc CSKH bị xem nhẹ thì sẽ làm cho những tiếng xấu bị lây lan gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của ngân hàng trong mắt khách hàng từ đó gằy ảnh hưởng rất lớn đến NHTM.
Như vậy có thể thấy rằng CSKH tốt sẽ tạo ra những hình ảnh độ tin cậy cao và ngược lại CSKH kém thì tạo ra hình ảnh tiêu cực và ảnh hưởng lớn không những chi nhánh mà cả trụ sở chính; Việc CSKH tốt sẽ giúp cho NHTM cắt giảm được mức chi phí để xử lý 9 các khiếu nại từ phía khách hàng để giải quyết các khiếu nại đó. Khi việc CSKH tốt thì ngân hàng sẽ có được những khách hàng trung thành, vì vậy sẽ cắt giảm được chi phí tiếp thị khách hàng. Khi lần đầu tiên ngân hàng đưa những chính sách phục vụ khách hàng tốt hơn thì sẽ không tốn công và tốn chi phí khắc phục; Việc CSKH sẽ giúp cho NHTM tăng trưởng được lợi nhuận mang lại, giúp nâng cao được tiền lương của nhân viên, tạo động lực cho nhân viên, đồng thời việc việc CSKH sẽ giúp cho cán bộ nhân viên giữ chằn khách hàng có nhiều cơ hội hơn trong công việc thăng tiến sau này. Khi CSKH tốt sẽ giúp cho nhân viên ít bị những lời chỉ trích từ phía khách hàng, ít gặp những áp lực từ phía khách hàng, giúp cho nhân viên có tinh thần thoải mái hơn, động lực làm việc tăng lên tạo ra năng suất lao động cao hơn; Việc CSKH tốt sẽ làm tăng thị phần doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng này so với những ngân hàng khác.
Khi CLDV của ngân hàng tốt làm tăng sự uy tín của ngân hàng và làm tăng vị thế của ngân hàng trong thị trường.4 Mối hên hệ giữa nhu cầu, kỳ vọng, thỏa mãn khách hàng và sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng được hiểu là sự cảm nhận hài lòng của một người sử dụng sản phẩm dịch của NHTM, những lợi ích mà sản phẩm dịch vụ đó mang lại thực tế cho khách hàng và những gì mà khách hàng đó kỳ vọng ở sản phẩm dịch vụ mà NHTM cung cấp.