chương 1 cũng đề cập đến các phương pháp phân tích để xác định năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh cũng như các biện pháp để đầu tư xây dựng và phát triển lợi thế cạnh tranh.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh, nguồn lực, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Có nhiều định nghĩa về cạnh tranh xuất phát từ các góc độ nhìn nhận vấn đề khác nhau. Vậy cạnh tranh là gì? Theo đại từ điển Tiếng Việt thì cạnh tranh được định nghĩa là sự “tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”. (Nguyễn Như Ý, 1999, tr. Theo định nghĩa này, có thể hiểu “cạnh tranh” là sự ganh đua, đấu tranh giữa các đối thủ có cùng chung mục đích để chiếm được vị trí cao nhất.
Trong Đại từ điển Kinh tế thị trường đưa ra định nghĩa: “cạnh tranh thị trường là biểu hiện của chủ thể hành vi kinh tế cùng loại trong nền kinh tế thị trường vì nghĩ đến lợi ích của bản thân, nhằm tăng cường thực lực kinh tế của mình, loại trừ hành vi tương đồng của chủ thể hành vi kinh tế cùng loại…” (Viện Nghiên cứu và phổ biến kiến thức bách khoa (1998), tr. Nhà Kinh tế học Paul A.Samuelson trong cuốn Kinh tế học về cạnh tranh, cho rằng: Cạnh tranh là “sự kình địch mạnh mẽ giữa những doanh nghiệp kinh doanh và những ngành khác nhau để giành khách hàng hoặc thị trường” (Samuelson P. Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng do Nguyễn Văn Đạm chủ biên định nghĩa: “Cạnh tranh là tìm mọi cách để giành kết quả cao hơn một hay nhiều cá nhân, tổ chức cùng có mục đích như mình” (Nguyễn Văn Đạm, tr. 6 Như vậy, với các khái niệm “tranh đua”, “loại trừ” hay “kình địch” để mô tả mâu thuẫn đối kháng về lợi ích có tính phổ biến, tất yếu giữa các chủ thể trong kinh tế thị trường, nhìn chung: Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể có cùng chung mục đích nhằm có được vị thế và lợi ích mong muốn.2 Khái niệm về nguồn lực Nguồn lực là một trong các yếu tố được đề cập hàng đầu khi phân tích tình hình thực tế và xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp.
Xác định được các nguồn lực mang một ý nghĩa thực tiễn đồng thời là nền tảng để xây dựng những mục tiêu và chiến lược khả thi, hứa hẹn nhất. Theo Rudolf Grunig và Richard Kuhn (2002, tr. 215) nguồn lực là các tài sản hữu hình và vô hình, là năng lực của cá nhân và tổ chức, và các yếu tố đặc trưng của vị thế thị trường, do công ty kiểm soát và là nền tảng hình thành các lợi thế cạnh tranh trong thị trường. Các nguồn lực này được tập hợp thành năm loại chính.
Các nguồn lực vật chất Nhà máy và thiết bị, các trung tâm hậu cần, các vị trí địa lý, bất động sản, phần cứng máy tính, mạng truyền thông. Các nguồn lực tài chính như là tài sản lưu động và công cụ tín dụng. Các nguồn lực phi vật chất nội bộ Các cấu trúc, hệ thống và quá trình như là hệ thống hoạch định và kiểm soát, các hệ thống quản lý nguồn nhân lực, cấu trúc tổ chức, các quá trình sản xuất, các hệ thống và quá trình thông tin… Thông tin và các quyền có tính pháp lý như là dữ liệu, tài liệu, nhãn hiệu, bằng sáng chế, giấy phép, hợp đồng… Các nguồn lực phi vật chất bên ngoài Sự công nhận và hình ảnh công ty và các nhãn hiệu sản phẩm, chất lượng và quy mô của cơ sở khách hàng. Uy tín của công ty đối với các nhà cung cấp, ngân hàng, nhân viên tiềm năng và các bên hữu quan khác.
Các nguồn lực thuộc cá nhân 7 Kiến thức và kỹ năng của nhà quản lý và nhân viên Động lực của nhà quản lý và nhân viên. Các nguồn lực thuộc tập thể Các đặc trưng văn hóa công ty như là thái độ và các giá trị cơ bản được ban hành trong công ty hay các bộ phận đặc thù của công ty. Các năng lực căn bản như là năng lực đạt chất lượng, năng lực tiếp thị và phục vụ các thị trường xuất khẩu. Các siêu năng lực như là khả năng đổi mới, khả năng hợp tác, khả năng thực hiện thay đổi.
Theo Lê Thế Giới và cộng sự (2009, tr.169) “nguồn lực phải độc đáo và đáng giá”. Nguồn lực độc đáo là nguồn lực mà không có công ty nào khác có thể có được. Nguồn lực đáng giá là nguồn lực giúp công ty tạo ra được năng lực khác biệt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra nhu cầu mạnh mẽ về sản phẩm công ty. Do đó cần phải lựa chọn những đặc điểm giúp xây dựng doanh nghiệp hiệu quả nhất.
Yếu tố nào tiện ích hơn, thuận lợi hơn cho quá trình phát triển chiến lược của doanh nghiệp được xem là nguồn lực đắt giá. Ví dụ nếu doanh nghiệp có nguồn cung cấp sản phẩm rẻ hơn so với bất cứ ai khác trong ngành, mà có thể đánh giá là một thế mạnh của doanh nghiệp dựa trên quan hệ giữa trên quan hệ giữa hiệu suất bên trong và hiệu suất bên ngoài. Bên cạnh đó, việc nhận thức nguồn lực độc đáo và đáng giá có thể thực hiện bằng cách so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Nguồn lực đó phải có những điểm hơn đối thủ, giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều doanh thu và lợi nhuận hơn đối thủ.
Tuy nhiên, nếu trong cùng một ngành, mà tất cả các đối thủ cạnh tranh đều có chất lượng sản phẩm cao thì đó là điều kiện cần chứ không phải là nguồn lực đắt giá của doanh nghiệp. Do vậy, thách thức đối với các nhà hoạch định là làm cách nào để hiều được giá trị chiến lược của các nguồn lực hữu hình và vô hình. Giá trị này được xác định bởi mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc phát triển các khả năng, các năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh. 8 Như vậy, có thể khái quát: “Nguồn lực là yếu tố giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và cung cấp giá trị cho khách hàng; và chỉ những nguồn lực độc đáo và đáng giá mới tạo ra lợi thế cạnh tranh.3 Năng lực cạnh tranh Theo định nghĩa trong Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì: “năng lực cạnh tranh là khả năng một doanh nghiệp giành thằng lợi trong cuộc cạnh tranh để tiêu thụ hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường” (Nguyễn Như Ý, 1999, tr.
Từ điển thuật ngữ kinh tế học (trang 349) do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội phát hành (2001) lại giải thích: năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn hơn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả giành lấy một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp.Porter (1984) thì cho rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo, giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng với chi phí thấp, năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về năng lực cạnh tranh cố gắng kết hợp cả các doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (Nguyễn Viết Lâm, tháng 8/2014, tr. Nói chung, ta có thể khái quát: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu thu nhập và phát triển bền vững”.4 Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô ở cấp quốc gia. Theo Michael Porter (1985, tr.35), lợi thế cạnh tranh theo đó là lợi nhuận cao hơn, đến với công ty nào có thể tạo ra giá trị vượt trội, và cách thức để tạo ra giá trị 9 này là hướng đến giảm thấp chi phí kinh doanh và/hoặc tạo khác biệt sản phẩm vì thế khách hàng đánh giá nó cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng thêm.
Chi phí thấp và sự khác biệt là hai chiến lược căn bản để tạo ra giá trị và giành lợi thế cạnh tranh trong ngành. Ngoài ra, lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Theo Lê Thế Giới và cộng sự (2011, tr.157), một công ty được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và công ty có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài.
Hai yếu tố cơ bản hình thành nên tỷ lệ lợi nhuận một công ty đó là lượng giá trị mà các khách hàng cảm nhận về hàng hóa hay dịch vụ của công ty, và chi phí sản xuất của nó. Thứ nhất, công ty sẽ cố gắng tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng, làm cho họ có được sự thỏa mãn vượt trên cả mong đợi của chính họ thông qua sự vượt trội về thiết kế, tính năng, chất lượng…Thứ hai, công ty có thể cố nâng cao hiệu quả hoạt động của mình để giảm chi phí, hệ quả là biên lợi nhuận tăng lên, hướng đến một lợi thế cạnh tranh. Cả hai điều này đều xuất phát từ sự sáng tạo của công ty, sáng tạo giá trị là hạt nhân của lợi thế cạnh tranh. Theo Nguyễn Hữu Lam và cộng sự (2011, tr.217), lợi thế cạnh tranh là năng lực phân biệt của công ty so với đối thủ cạnh tranh mà năng lực này được khách hàng đánh giá cao vì tạo ra nhiều giá trị cho khách hàng.
Như vậy, lợi thế cạnh tranh xuất hiện khi công ty có thể cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mang lại giá trị cho khách hàng dựa trên hai phương thức cơ bản là chi phí thấp và hoặc tạo ra khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, kết quả đem lại lợi nhuận cao hơn.2 Năng lực cạnh tranh của NHTM Theo PGS.