CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về cạnh tranh trong kinh tế thị trường: 1.Khái niệm cạnh tranh: Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, thể thao, …; cũng như thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế, các phương tiện thông tin đại chúng và thuật ngữ này được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh. Tiếp cận ở góc độ đơn giản thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh các cá nhân, các nhóm, loài chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài khác vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có quan điểm cho rằng, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Paul Anthony Samuelson và William Nordhaus lại cho rằng, cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần. Michael Porter thì cho rằng, cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có, kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. 1 Từ các quan điểm trên, cạnh tranh trong kinh tế thị trường là sự đối đầu giữa các chủ thể tham gia thị trường để giành những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất, tiêu thụ, tiêu dùng hàng hóa nhằm thu lại nhiều lợi ích nhất cho chính họ. Khái niệm năng lực cạnh tranh: Cũng như cạnh tranh, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm; và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh. Quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt.
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà còn đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường.
Có quan điểm khác cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Có quan điểm lại gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,…. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình thì chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc làm thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng 2 cao hơn. Vì thế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, có thể đúc kết lại rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, sử dụng hợp lý thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường. Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn so với các đối thủ về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến lược.
Năng lực cạnh tranh cũng thể hiện thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh. Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại: 1.1 Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng: 1.1 Khái niệm cạnh tranh ngân hàng: Giống như các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn hướng tới việc giành lấy những yếu tố thuận lợi nhất trong quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị phần để tối ưu hóa lợi nhuận kiếm được. Cho nên, cạnh tranh ngân hàng cũng là sự đối đầu giữa các ngân hàng để giành giật khách hàng, giành giật những điều kiện thuận lợi nhất cho họ trong việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ đặc biệt, có chất lượng cao, có sự khác biệt tương đối so với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh trên thị trường nhằm thu lại nhiều lợi ích nhất.Đặc điểm của cạnh tranh ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại (NHTM) trong hoạt động kinh doanh của mình, luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với đối thủ với mục tiêu là giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng và cung ứng dịch vụ. Do ngành nghề kinh doanh 3 khá đặc thù, nên cạnh tranh giữa các NHTM cũng có những nét đặc trưng rất riêng biệt.
Có thể nhận thấy là: - Thứ nhất, cạnh tranh và hợp tác xen lẫn nhau để hướng đến một thị trường lành mạnh: các NHTM thường giao dịch với nhau thông qua các khoản tiền gửi ngắn hạn hoặc tài khoản vãng lai thanh toán để đáp ứng các yêu cầu kinh doanh. Vì thế, nếu như có một NHTM trong quá trình kinh doanh gặp khó khăn và đối mặt với nguy cơ phá sản, sẽ tác động dây chuyền đến cả hệ thống các NHTM, thậm chí còn ảnh hưởng đến cả các tổ chức phi tài chính; lẽ dĩ nhiên, không một NHTM nào muốn điều đó xảy ra. Do đó, các NHTM một mặt luôn luôn cạnh tranh gay gắt với nhau để giành giật khách hàng, giành giật thị phần; mặt khác lại luôn phải hợp tác với nhau, cùng nhau tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn để tránh rủi ro hệ thống. - Thứ hai, cạnh tranh được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Trung ương: hoạt động của các NHTM ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, sự mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh của các NHTM sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ hệ thống, kéo theo hệ lụy là gây thiệt hại nặng nề cho cả nền kinh tế quốc gia.
Bởi vậy, Ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) sẽ giám sát hết sức chặt chẽ hoạt động của các NHTM trên thị trường và liên tục có những cảnh báo khi có dấu hiệu của những diễn biến bất lợi để phòng ngừa rủi ro. Dưới sự giám sát và cảnh báo này, sự cạnh tranh giữa các NHTM sẽ khó có thể làm cho một bộ phận trong hệ thống suy yếu đi và dẫn đếp sụp đổ như trong các lĩnh vực kinh doanh khác. - Thứ ba, cạnh tranh công nghệ cao và nằm trong sự ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế: do là các trung gian tài chính, nên hoạt động kinh doanh của các NHTM sẽ tạo ra các “ống dẫn” cho quá trình lưu chuyển tiền tệ nội địa và quốc tế và cũng vì vậy, họ phải chịu sự chi phối của rất nhiều tác nhân trong nước cũng như quốc tế trong quá trình hoạt động, điển hình là tập tục kinh doanh của từng quốc gia, các thông lệ quốc tế, cơ sở hạ tầng công nghệ, …. Diễn biến phức tạp của thị trường tài chính quốc tế cũng làm cho các NHTM phải liên tục thay đổi phương pháp sử dụng trong cạnh tranh.
Như vậy, cạnh tranh giữa các NHTM đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ cạnh tranh trong lĩnh vực nào của nền kinh tế. 4 - Thứ tư, cạnh tranh chịu sự tác động trực tiếp từ chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: nguồn vốn kinh doanh của các NHTM chủ yếu là vốn huy động từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế - xã hội, vốn tự có chỉ là thứ yếu và hầu hết được dùng để trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Kết hợp với việc chính sách tiền tệ thường được Nhà nước sử dụng để điều tiết ở tầm vĩ mô, thì quá trình các NHTM cạnh tranh với nhau còn chịu sự chi phối vô cùng lớn từ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương ở từng giai đoạn, chịu sự chi phối lớn nhất là trong cạnh tranh về huy động vốn và cho vay.Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của NHTM: Năng lực cạnh tranh của một NHTM thể hiện chủ yếu ở các điểm sau: 1.