Luận án TS Lê Hồng Tư: Nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong QSQP địa phương

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong quân sự quốc phòng địa phương.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án
211
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác đảng chính trị trong quốc phòng địa phương

Công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong quốc phòng địa phương là một bộ phận trọng yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hoạt động này không chỉ giới hạn trong phạm vi quân đội mà còn là một mặt công tác cơ bản của toàn bộ hệ thống chính trị tại địa phương. Mục đích cốt lõi là nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng, huy động tối đa nguồn lực để thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng. Điều này góp phần trực tiếp vào việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Trọng tâm của công tác này là xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội và trong toàn bộ sự nghiệp quốc phòng. CTĐ, CTCT bao gồm tổng thể các hoạt động về tư tưởng, tổ chức, chính sách và vận động quần chúng. Nó trực tiếp định hướng nhận thức, củng cố niềm tin và ý chí chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Thông qua giáo dục chính trị tư tưởng, công tác này xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân cho lực lượng vũ trang địa phương. Đồng thời, CTĐ, CTCT còn tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng cấp ủy, chính quyền địa phương vững mạnh, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Sự thành công của công tác đảng, chính trị trong quốc phòng địa phương là nhân tố quyết định đến việc nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên từng địa bàn.

1.1. Vai trò cốt lõi của CTĐ CTCT trong quốc phòng địa phương

CTĐ, CTCT giữ vai trò là “linh hồn, mạch sống”, là nhân tố quyết định đến việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Thứ nhất, nó góp phần củng cố và nâng cao hiệu quả công tác đảng chính trị, bảo đảm hiệu lực lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương. Thứ hai, CTĐ, CTCT trực tiếp xây dựng và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Thứ ba, công tác này trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Cuối cùng, nó góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

1.2. Mục tiêu nội dung và phương thức tiến hành CTĐ CTCT

Mục tiêu của CTĐ, CTCT là huy động mọi nguồn lực của địa phương để thực hiện thắng lợi đường lối quốc phòng của Đảng. Nội dung của công tác này rất toàn diện, bao gồm: giáo dục chính trị tư tưởng; xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; thực hiện chính sách quốc phòng và hậu phương quân đội; công tác dân vận; bảo vệ an ninh nội bộ. Các hình thức, biện pháp tiến hành rất đa dạng, từ tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng, đến việc lồng ghép vào các phong trào thi đua yêu nước. Việc đổi mới nội dung phương thức CTĐ, CTCT là yêu cầu cấp thiết để phù hợp với thực tiễn, đảm bảo công tác này luôn thiết thực và hiệu quả.

II. Thách thức chính trong công tác đảng ở quốc phòng địa phương

Việc nâng cao chất lượng công tác đảng, chính trị trong quốc phòng địa phương hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức cả khách quan và chủ quan. Một trong những hạn chế lớn nhất đến từ nhận thức của một số chủ thể, lực lượng về vai trò của CTĐ, CTCT còn chưa thực sự sâu sắc và đầy đủ. Điều này dẫn đến việc triển khai nội dung, hình thức, biện pháp còn chung chung, chậm đổi mới, chưa phát huy hết vai trò của các tổ chức. Luận án của tác giả Lê Hồng Tư chỉ rõ: “Kinh phí, ngân sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho hoạt động CTĐ, CTCT... chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ”. Bên cạnh đó, tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, đòi “phi chính trị hóa” quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt, trực tiếp tác động đến sự ổn định chính trị và sức mạnh của lực lượng vũ trang địa phương. Mặt khác, những tác động tiêu cực từ kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là một thách thức không nhỏ. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây khó khăn cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng và xây dựng niềm tin.

2.1. Hạn chế về nhận thức và sự phối hợp trong thực tiễn

Một số cấp ủy, chính quyền và cán bộ chủ chốt chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng chiến lược của CTĐ, CTCT. Điều này dẫn đến sự quan tâm, đầu tư chưa tương xứng. Công tác phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là giữa cơ quan quân sự và các tổ chức chính trị - xã hội, đôi khi còn thiếu chặt chẽ. Việc phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng đối với nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT chưa được thực hiện tốt, làm giảm sức mạnh tổng hợp trong việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân tại cơ sở.

2.2. Tác động từ diễn biến hòa bình và suy thoái tư tưởng

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Hoạt động này nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội và xã hội. Cùng lúc đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên làm xói mòn lòng tin của nhân dân, tạo kẽ hở cho các luận điệu sai trái, thù địch xâm nhập, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

III. Phương pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng trong quân đội

Để nâng cao chất lượng công tác đảng, chính trị trong quốc phòng địa phương, giải pháp nền tảng và có tính quyết định là phải không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này đòi hỏi một hệ thống các biện pháp đồng bộ, từ cấp trung ương đến cơ sở. Trước hết, cần phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là cấp ủy, chính quyền địa phương, về vị trí chiến lược của công tác này. Cấp ủy các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, xác định chủ trương, phương hướng sát đúng với tình hình thực tế. Chính quyền các cấp cần thể chế hóa các nghị quyết của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể. Vai trò tham mưu của ban chỉ huy quân sự cấp huyện/tỉnh và các cơ quan chính trị là cực kỳ quan trọng. Các cơ quan này phải chủ động đề xuất những giải pháp hiệu quả, giúp cấp ủy, chính quyền ra quyết định chính xác. Yếu tố then chốt thứ hai là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực. Cần tập trung bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị viên có bản lĩnh vững vàng, năng lực chuyên môn giỏi, phong cách làm việc khoa học, gần dân, sát cơ sở. Việc này đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng được xuyên suốt và hiệu quả ở mọi cấp, góp phần tăng cường công tác đảng công tác chính trị một cách thực chất.

3.1. Nâng cao hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy chính quyền địa phương

Giải pháp này yêu cầu cấp ủy các cấp phải thường xuyên ban hành các nghị quyết chuyên đề về công tác quốc phòng, quân sự. Chính quyền cần cụ thể hóa bằng các kế hoạch chi tiết, phân công rõ trách nhiệm cho từng ngành, từng cấp. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết là biện pháp quan trọng để đảm bảo đường lối của Đảng được thực thi nghiêm túc. Cần phát huy vai trò của Hội đồng nhân dân trong việc giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến tiềm lực quốc phòng địa phương.

3.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên nòng cốt vững mạnh

Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên quyết định hiệu quả công tác đảng chính trị. Cần chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì trong các cơ quan quân sự. Phải xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp thực sự vững mạnh, có đủ năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện. Đồng thời, phải nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang địa phương, đảm bảo mỗi đảng viên là một tấm gương về phẩm chất chính trị và năng lực công tác.

IV. Bí quyết đổi mới nội dung phương thức CTĐ CTCT hiệu quả

Để công tác đảng, chính trị trong quốc phòng địa phương không đi vào lối mòn, hình thức, việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động là một yêu cầu tất yếu. Sự đổi mới phải bắt nguồn từ thực tiễn sinh động của từng địa phương, bám sát nhiệm vụ chính trị và đặc điểm tâm lý của từng đối tượng. Về nội dung, cần tránh sự giáo điều, chung chung. Giáo dục chính trị tư tưởng phải gắn liền với việc giải quyết các vấn đề thực tiễn mà cán bộ, chiến sĩ và nhân dân quan tâm. Nội dung tuyên truyền cần đa dạng, kết hợp giữa giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với truyền thống lịch sử của dân tộc, của địa phương. Về phương thức, cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo nhiều hình thức khác nhau. Cần kết hợp các phương pháp truyền thống như hội nghị, tọa đàm với việc ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để tăng tính tương tác và lan tỏa. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao cũng là kênh hiệu quả để truyền tải nội dung chính trị. Đặc biệt, việc lồng ghép CTĐ, CTCT vào các phong trào hành động cách mạng của quần chúng như xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo sẽ làm cho công tác này trở nên gần gũi, thiết thực. Việc đổi mới nội dung phương thức CTĐ, CTCT phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, có lòng yêu nước nồng nàn, có ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.

4.1. Đa dạng hóa hình thức giáo dục chính trị tư tưởng cho LLVT

Thay vì chỉ tập trung vào các buổi lên lớp chính trị, cần phát triển các mô hình học tập sinh động như “Mỗi ngày một lời Bác dạy”, “Tủ sách pháp luật”, các cuộc thi tìm hiểu lịch sử, sân khấu hóa... Đối với lực lượng dân quân tự vệlực lượng dự bị động viên, hình thức giáo dục cần ngắn gọn, dễ hiểu, gắn với nhiệm vụ sản xuất và công tác tại địa phương. Việc sử dụng các phương tiện trực quan, phim tài liệu, và các điển hình tiên tiến sẽ làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả giáo dục.

4.2. Gắn kết công tác chính trị với phong trào cách mạng của nhân dân

CTĐ, CTCT chỉ thực sự có sức sống khi nó hòa mình vào đời sống nhân dân. Cần phát động và tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, thi đua quyết thắng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Lực lượng vũ trang phải là lực lượng nòng cốt trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai. Thông qua những hoạt động thực tiễn này, mối quan hệ đoàn kết quân - dân được củng cố, “thế trận lòng dân” được xây dựng vững chắc, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

V. Kinh nghiệm thực tiễn xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc

Kết quả của việc nâng cao chất lượng công tác đảng, chính trị trong quốc phòng địa phương được thể hiện rõ nét qua việc xây dựng các khu vực phòng thủ (KVPT) ngày càng vững chắc. Đây là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn dân. CTĐ, CTCT đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, yếu tố quyết định sức mạnh của KVPT. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc được nâng lên rõ rệt. Một kinh nghiệm quan trọng là phải phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các tổ chức, lực lượng. Cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thống nhất từ tỉnh đến cơ sở, đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng. Bên cạnh đó, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế là một nguyên tắc chiến lược. Các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải tính đến yếu tố quốc phòng, tạo ra thế trận lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa sẵn sàng cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, ở đâu CTĐ, CTCT được coi trọng, ở đó tiềm lực KVPT được củng cố, an ninh chính trị được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững.

5.1. Xây dựng thế trận lòng dân và tiềm lực quốc phòng địa phương

“Thế trận lòng dân” là nền tảng của xây dựng nền quốc phòng toàn dân. CTĐ, CTCT thông qua công tác dân vận, thực hiện chính sách hậu phương quân đội đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền. Khi lòng dân vững, mọi tiềm lực về kinh tế, con người, khoa học công nghệ đều được huy động hiệu quả cho quốc phòng. Việc xây dựng tiềm lực quốc phòng địa phương không chỉ là xây dựng lực lượng quân sự mà còn là xây dựng một xã hội ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, giàu mạnh về văn hóa.

5.2. Kết hợp kinh tế với quốc phòng để phát triển bền vững

Sự kết hợp này được thể hiện trong việc quy hoạch các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các công trình hạ tầng lưỡng dụng (đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện...). Lực lượng vũ trang địa phương, đặc biệt là bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, tham gia tích cực vào các chương trình phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới. Ngược lại, sự phát triển kinh tế tạo ra nguồn lực vật chất, kỹ thuật to lớn để hiện đại hóa quân đội và củng cố quốc phòng, tạo nên một vòng tuần hoàn phát triển bền vững.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về công tác quân sự, quốc phòng địa phương A.An-tu-nin (1980), Phòng thủ dân sự [1]. Đây là công trình khoa học nghiên cứu về một nội dung cơ bản của công tác QSQPĐP ở Liên bang Xô Viết.

Theo tác giả, phòng thủ dân sự là sự nghiệp của toàn dân. Mỗi công dân Xô Viết đều phải nắm vững những kiến thức cần thiết về phòng thủ dân sự, phòng tránh vũ khí huỷ diệt lớn. Việc chuẩn bị cho nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phòng thủ dân sự bao gồm nhiều biện pháp khác nhau; trong đó, biện pháp quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định là tổ chức huấn luyện, luyện tập, hướng dẫn cho nhân dân biết cách thực hiện các biện pháp phòng tránh, cấp cứu cho nhau và tự cấp cứu cho bản thân mình., bảo đảm cho mỗi người dân sẵn sàng hành động đúng đáp ứng các điều kiện đặc biệt của chiến tranh. Chương Tư Nghị (1986), Công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc [104].

Đây là công trình khoa học gồm 10 phần, 47 chương, trong đó có nội dung bàn về công tác QSQPĐP. Theo tác giả, “Chiến tranh chống xâm lược trong tương lai, chiến tranh nhân dân vẫn là bảo bối quan trọng chiến thắng quân địch” [104, tr. Vì vậy, để xây dựng nền QPTD và tiến hành CTND có hiệu quả, cấp ủy, chính quyền địa phương phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các mặt của công tác QSQPĐP như: công tác xây dựng, huấn luyện lực lượng dân quân; công tác tuyển quân; công tác xây dựng và huy động quân dự bị… Đặc biệt, từ việc phân tích làm rõ vị trí, vai trò của lực lượng dân quân - một thành phần quan trọng trong LLVT địa phương, tác giả chỉ ra yêu cầu: “Đảng ủy và chính quyền địa phương phải coi việc xây dựng văn minh tinh thần dân quân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng của công tác đảng quản lý lực lượng vũ trang trong tình hình mới, phải đặt công tác này vào vị trí mới” [104, tr.Nie-kra-xốp (1987), Công tác tổ chức giáo dục thể thao quốc phòng trong trường học [105]. Đây là công trình khoa học nghiên cứu về một hoạt động cụ thể của công tác QSQPĐP, đó là việc tổ chức các hoạt động thể thao quốc phòng trong hệ thống các trường học ở Liên Xô.

Tác giả đã tổng kết quá trình hoạt động của Hội Tình nguyện giúp đỡ hải, lục, không quân toàn Liên Xô (gọi tắt là hội Đô-xáp Liên Xô) trong các trường học, nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, bồi dưỡng, huấn luyện những kiến thức, kỹ năng QSQP cần thiết cho học sinh. Qua đó cho rằng, các chi hội Đô-xáp cơ sở phải được tổ chức, phát triển và hoạt động có hiệu quả trong các trường học, nhằm giúp học sinh thực hiện ước mơ “trở thành những phi công anh dũng, những người chinh phục không gian bao la, những thủy thủ can đảm, những nhà chế tạo máy bay và động cơ…” [105, tr. 7], giúp học sinh học bắn súng giỏi, bơi lội, chèo thuyền, hành quân bộ, lái môtô, ôtô… Tác giả khẳng định, sự tham gia của học sinh vào các tổ, các lớp huấn luyện như vậy sẽ góp phần củng cố khả năng phòng thủ đất nước, bởi vì càng có nhiều thanh niên thông thạo một hoặc nhiều môn quân sự thực dụng bao nhiêu, thì công tác giáo dục quốc phòng phổ cập càng được nâng cao bấy nhiêu. Tác giả còn cho rằng, mỗi người Xô Viết yêu nước, bất kỳ ở cương vị nào đều cần thiết được chuẩn bị về mặt quốc phòng.

Sỉ Phon Kẹo Sa May (2013), Xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào [102] đã luận giải làm rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của xây dựng nền QPTD đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào; đồng thời làm rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về xây dựng tiềm lực quốc phòng trong tình hình mới. Theo tác giả, xây dựng tiềm lực QPTD là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc xây dựng tiềm lực QPTD đòi hỏi phải phát huy vai trò, trách nhiệm của tất cả các tổ chức, lực lượng; trong đó, tăng cường sự lãnh đạo cấp ủy, sự quản lý, điều hành của chính quyền địa phương các cấp đối với nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng là vấn đề có ý nghĩa quyết định. 12 Một số công trình tiêu biểu khác nghiên cứu về công tác QSQPĐP như: U Đôm Xay Mường Khột (2009), Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực phòng thủ tỉnh ở địa bàn Trung Lào [99]; Phôn Thong Phăn Cha Lơn Phôn (2011), Nghiên cứu xây dựng và hoạt động của bộ đội địa phương trong khu vực phòng thủ tỉnh Bắc Lào [124]; Khăm Phun Lươn Sôm Vẳng (2016), Xây dựng tiềm lực quân sự khu vực phòng thủ các tỉnh ở địa bàn Nam Lào trong tình hình mới [144].

Các công trình trên đều thống nhất nhận định: Bước vào thời kỳ mới, đất nước Lào có nhiều thuận lợi, song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Lào. Vì vậy, xây dựng nền QPTD, thế trận CTND vững mạnh, KVPT vững chắc; chú trọng xây dựng và phát triển các LLVT cách mạng nói chung, LLVT địa phương Lào nói riêng vững mạnh, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở; đảm bảo giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mà trực tiếp là của cấp ủy địa phương các cấp đối với công tác QSQPĐP là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Lào trong mọi tình huống. Các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang A. Đây là công trình khoa học tổng kết quá trình hình thành và phát triển của CTĐ, CTCT trong sự nghiệp xây dựng và trưởng thành của các LLVT Xô Viết từ năm 1918 đến năm 1973.

Cuốn sách đã chỉ rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của CTĐ, CTCT đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội Xô Viết; chỉ ra cơ sở chính trị - xã hội và tư tưởng - lý luận chính trị, sự hình thành các nguyên tắc CTĐ, CTCT. Bên cạnh đó, về mặt nội dung, cuốn sách đã trình bày rõ nội dung của công tác tư tưởng, công tác tổ chức; CTĐ, CTCT trong nâng cao tính sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của quân đội; CTĐ, CTCT 13 trong củng cố, tăng cường kỷ luật quân sự; CTĐ, CTCT trong việc nâng cao trình độ nghệ thuật chiến đấu cho chiến sĩ; CTĐ, CTCT trong củng cố sự hợp tác chiến đấu với quân đội các nước trong hiệp ước Vác-sa-va… A.Grê-scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô Viết [92] đã luận giải làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của CTĐ, CTCT đối với sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVT Liên Xô; chỉ ra sự cần thiết phải nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong LLVT, nhất là trong thời kỳ mới, trước sự chống phá của kẻ thù, đặc biệt là trên lĩnh vực chính trị tư tưởng; chỉ ra nội dung cơ bản và các biện pháp nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong LLVT. Tác giả còn chỉ ra nguyên nhân quan trọng hàng đầu dẫn đến thành công của CTĐ, CTCT chính là vì “nó được tiến hành dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị…” [92, tr. Đây là công trình khoa học trình bày khá sâu sắc và toàn diện về CTĐ, CTCT trong các LLVT Xô Viết.

Bàn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của CTĐ, CTCT, tác giả cuốn sách khẳng định: CTĐ, CTCT trong các LLVT Liên Xô là một bộ phận khăng khít của hoạt động biến đổi cách mạng của Đảng Cộng sản. Trong suốt lịch sử xây dựng Quân đội Xô Viết, công tác này luôn luôn “là phương tiện thực hiện có hiệu nghiệm chính sách của Đảng Cộng sản Liên Xô trong các lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở chính trị - tinh thần của sức mạnh chiến đấu và sự sẵn sàng chiến đấu, tăng cường ảnh hưởng của Đảng trong cán bộ, chiến sĩ, là một trong những điều kiện tất yếu để chiến thắng kẻ thù…” [29, tr. Theo tác giả, vai trò của CTĐ, CTCT không chỉ được thể hiện trong chiến tranh, mà ngay trong thời bình và hiện nay, vai trò đó càng trở nên đặc biệt quan trọng, cấp thiết. Bởi vì, mặc dù trong thời bình, song “lực lượng vũ trang đang thực hiện nhiệm vụ cực kỳ nặng nề và phức tạp, vì ngay bản thân lực lượng vũ trang đang không ngừng phát triển và hoàn thiện về chất lượng, vì cuộc đấu tranh tư tưởng trên thế giới đang gay gắt” [29, tr.

14 Bàn về nguyên tắc tiến hành CTĐ, CTCT, tác giả cuốn sách cho rằng, khi tiến hành CTĐ, CTCT, các tổ chức, lực lượng cần phải tuân thủ các nguyên tắc như: CTĐ, CTCT phải mang tính Đảng, tính giai cấp và tính tư tưởng; CTĐ, CTCT phải liên hệ chặt chẽ với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa cộng sản, với các nhiệm vụ của LLVT; CTĐ, CTCT phải mang tính cụ thể và tính mục đích; CTĐ, CTCT phải mang tính liên tục và linh hoạt; CTĐ, CTCT phải có sự thống nhất giữa công tác tư tưởng và công tác tổ chức; CTĐ, CTCT phải có tính kế hoạch; CTĐ, CTCT phải có tính khoa học; CTĐ, CTCT phải gắn liền với hoạt động của các cơ quan Đảng, cơ quan Xô Viết địa phương. Bàn về nội dung, hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT, cuốn sách đã luận giải làm rõ vị trí, vai trò, nội dung, hình thức công tác tư tưởng trong LLVT; chỉ ra các nội dung, hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT trong các tình huống chiến đấu và trong thực hiện các nhiệm vụ khác của quân đội; làm rõ hoạt động thi đua XHCN trong quân đội và hải quân, hoạt động rèn luyện tinh thần - chính trị và tâm lý cho bộ đội, hoạt động CTĐ, CTCT trong việc củng cố liên minh chiến đấu với quân đội các nước XHCN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ