CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2013), “Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại là ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn của các đối tượng khách hàng, đồng thời khi vay vốn khách hàng phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn cả tiền gốc và lãi cho khoản tiền vay” Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), “Chất lượng tín dụng của ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được hai yêu cầu của ngân hàng là an toàn và sinh lợi”. Trong phạm vi nghiên cứu này, chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại được hiểu là khoản tín dụng làm hài lòng khách hàng về nhu cầu vốn và vừa đảm bảo mục tiêu an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Từ khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại, tác giả nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng theo 2 nhóm chỉ tiêu sau: 1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng phát triển và xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý RRTD, giúp phân biệt các mức độ RRTD trong các tài sản có tiềm năng rủi ro của ngân hàng - Tỷ lệ nợ quá hạn: Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100 Tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ số đánh giá tỷ lệ phần trăm của dư nợ đã quá hạn so với tổng dư nợ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, và là một chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng và mức độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Một tỷ lệ quá hạn cao là dấu hiệu của rủi ro tín dụng lớn, phản ánh khả năng khách hàng không trả nợ đúng hạn, và có thể dẫn đến tăng nợ xấu, làm tổn thất tài chính cho ngân hàng.
Việc duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp là thiết yếu để bảo vệ sự an toàn và ổn định của ngân hàng, tránh rủi ro tài chính và nguy cơ phá sản (Tô Ngọc Hưng, 2019) 4 - Tỷ lệ nợ xấu: Dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100 Tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, nó phản ảnh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt. Nếu chỉ tiêu này cao, ngân hàng sẽ bị đánh giá là có CLTD thấp và ngược lại. Tuy nhiên, nợ xấu là một vấn đề khó tránh khỏi trong hoạt động tín dụng ngân hàng, do đó điều quan trọng là NHTM cần duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất là có thể chấp nhận được. Theo ngân hàng Thế giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được, tốt ở mức 1 – 3% (Tô Ngọc Hưng, 2019).
- Tỷ lệ dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm: Mục tiêu trong hoạt động cho vay của NHTM là phải bảo đảm được an toàn vốn vay. Trong quan hệ tín dụng, nguồn trả nợ cho các NHTM thường lấy từ khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khách hàng sử dụng vốn kém hiệu quả, hoạt động sản xuất kinh doanh không diễn ra như kỳ vọng, dẫn đến không có khả năng trả nợ. Đối với các trường hợp này, NHTM phải xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ nhằm đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng.
Dư nợ tín dụng có tài sản đảm bảo Tỷ lệ dư nợ tín dụng Dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm có tài sản bảo đảm = x 100 Tổng dư nợ Tỷ trọng cho vay có tài sản đảm bảo càng lớn, nguồn thu nợ từ xử lý tài sản trong trường hợp khách hàng không trả được nợ càng nhiều, mức độ an toàn vốn của ngân hàng càng được đảm bảo, chất lượng tín dụng càng được nâng cao - Tỷ lệ bao phủ nợ xấu: Tỷ lệ bao phủ nợ Dự phòng RRTD được trích lập = x 100 xấu Nợ xấu Đây là tiêu chí phản ánh mức độ tổn thất nợ xấu có thể được bù đắp bởi dự phòng rủi ro tín dụng do ngân hàng trích lập. Hệ số bù đắp tổn thất nợ xấu cho biết trong 100 đồng nợ xấu nội bảng, Ngân hàng đã thực hiện trích lập bao nhiêu đồng dự phòng RRTD. Hệ số này càng lớn chứng tỏ mức độ sẵn sàng khắc phục và xử lý những tổn thất do nợ xấu ngân hàng gây ra càng cao. Tuy vậy khi dự phòng RRTD tăng cao sẽ làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến lợi nhuận ròng của ngân hàng (Tô Ngọc Hưng, 2019).
5 - Lãi treo: Lãi treo trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là lãi phát sinh từ các khoản vay nhưng chưa thể thu được, thường do nợ quá hạn hoặc nợ xấu. Tỷ lệ lãi treo được xác định bằng công thức: Số lãi treo Tỷ lệ lãi treo = x 100 Tổng dư nợ bình quân Tỷ lệ lãi treo, được tính bằng lãi treo chia cho dư nợ tín dụng bình quân, là chỉ số quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong việc đánh giá rủi ro tín dụng và mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng. Một tỷ lệ cao báo hiệu sự tăng của nợ xấu và khả năng giảm lợi nhuận do không thu được lãi suất dự kiến, yêu cầu ngân hàng cần xem xét lại quy trình quản lý rủi ro của mình. Do đó việc kiểm soát tỷ lệ lãi treo không chỉ giúp cải thiện tình hình tài chính mà còn là yếu tố then chốt, duy trì uy tín và định giá của ngân hàng trên thị trường (Tô Ngọc Hưng 2019) 1.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá sinh lời trong hoạt động tín dụng - Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ( Net Interest Margin – NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi Thu nhập lãi thuần = ròng cận biên (NIM) Tổng tài sản sinh lời Trong đó: Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi - Chi phí lãi Tài sản sinh lời = Tiền gửi tại NHNN + Tiền gửi tại các TCTC khác + Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp.
NIM đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay, hoạt động tài sản có sinh lời lớn nhất của NHTM lệ này có ý nghĩa là: khi ngân hàng tăng thêm 1 đơn vị tài sản sinh lời thì thu nhập lãi thuần tăng thêm bao nhiêu đơn vị. Qua chỉ tiêu này có thể điều chỉnh, kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản sinh lời, tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp, đồng thời có chính sách tăng giảm lãi suất 1 cách hợp lý. Theo như đánh giá của Standard & Poor thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. Ngoài ra NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay 6 các tổ chức cho vay cầm cố (Allen và Gale, 1995).
Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản Nợ - Có, trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 1. Các yếu tố chủ quan - Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Chất lượng tín dụng tùy thuộc vào chính sách tín dụng của NHTM, NHTM cần phải có chính sách tín dụng đúng đắn, rõ ràng, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của ngân hàng và người vay tiền. Chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, dẫn đến đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng và từ các sản phẩm dịch vụ khác.
- Quy trình tín dụng: quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước nghiệp vụ từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của CBTD và lãnh đạo ngân hàng có liên quan (chuẩn bị cho vay, phát triển vay, kiểm tra quá trình cho vay, thu hồi nợ). Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay là cực kỳ quan trọng, trong bước này chất lượng tín dụng phụ thuộc vào chất lượng công tác thẩm định khách hàng và các quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng NHTM. Bước kiểm tra quá trình cho vay sẽ giúp ngân hàng sớm ngăn ngừa được rủi ro có thể xảy ra để đưa ra những hành động kịp thời để điều chỉnh hay can thiệp, từ đó cải thiện chất lượng tín dụng. Khâu thu nợ là một bước quan trọng cần được phát huy tích cực để ngân hàng có thể thu hồi lại vốn.
Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý, phối hợp nhịp nhàng giữa các bước sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng. Công tác tổ chức: các cán bộ, phòng ban trực tiếp thực hiện nghiệp vụ tín dụng hay các cán bộ, phòng ban liên quan trước hết cần được triển khai và nắm rõ về kế hoạch, chỉ tiêu kinh doanh, về nhiệm vụ quyền hạn cụ thể được phân công, đồng thời tổ chức phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các phòng ban trong ngân hàng trong thực hiện nghiệp vụ, hay giữa ngân hàng với các tổ chức khác sẽ giúp cho quy trình tín dụng được thực hiện chính xác, nâng cao chất lượng tín dụng.