phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về tín dụng và chất lƣợng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng ngắn hạn dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn. - Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng ngắn hạn dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Sài Gòn. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 13 1.
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại Khái niệm Theo Luật Các tổ chức tín dụng của Quốc hội ban hành ngày 29/06/2010 thì: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhƣ vậy, ngân hàng thƣơng mại là một tôt chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tƣ và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Chức năng của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian này đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM.
Khi thực hiện chức năng gian tín dụng NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Với chức năng này NHTM vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia. - Chức năng trung gian thanh toán: NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán nhƣ séc, uỷ nhiệm thu, uỷ 14 nhiệm chi, thu điện tử, thẻ tín dụng… Tuỳ theo nhu cầu, khách hàng có thể lựa chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó các chủ thể kinh tế không cần phải mang theo lƣợng lớn tiền mặt khi giao dịch với khách hàng, từ đó tiết kiệm đƣợc chi phí, thời gian, đảm bảo an toàn. Chức năng này đã thúc đẩy lƣu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, thúc đẩy kinh tế phát triển. - Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình vô hình chung đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền đó lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. (Trích sách giáo trình Lý thuyết Tài chính tiền tệ trường ĐH Ngân hàng TPHCM - PGS. Lê Thị Tuyết Hoa - TS Đặng Văn Dân đồng chủ biên) 1.
Tín dụng Ngân hàng thƣơng mại Khái niệm Nói một cách chung nhất có thể hiểu, tín dụng là một mối quan hệ giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho 15 bên chuyển giao tiền hoặc tài sản theo điều kiện đã thỏa thuận. Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau: - Ngƣời cho vay chuyển giao cho ngƣời đi vay một lƣợng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dƣới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật nhƣ hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản. - Ngƣời đi vay chỉ đƣợc sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, ngƣời đi vay phải hoàn trả cho ngƣời cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thƣờng lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác ngƣời đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay). - Tín dụng đƣợc phân chia tùy theo đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng mà đƣợc phân chia theo các hình thức phù hợp. Thông thƣờng các ngân hàng phân chia tín dụng theo tiêu thức thời gian bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn. Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi.
Vai trò - Cung cấp vốn: các nguồn tài trợ tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn quan trọng đối với các DN để sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, mua máy móc thiết bị… - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN trên thị trƣờng 16 - Bên cạnh đó, khả năng linh hoạt về thời hạn và lãi suất sẽ khuyến khích sự chủ động của các DN trong việc sử dụng vốn sao cho phù hợp. Thúc đẩy hoạt động sản xuất diễn ra thuận lợi và nhanh chóng - Là trung gian về vốn của các nguồn tài trợ nƣớc ngoài cho các hoạt động xuất nhập khẩu. TÍN DỤNG NGẮN HẠN NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Tín dụng ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn tối đa là 12 tháng.
Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, Ngân hàng thƣơng mại có thể cho khách hàng vay ngăn hạn nhằm bổ sung vốn lƣu động tạm thời thiếu hụt hoặc cho vay để tiêu dùng. ( Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ trường ĐH Ngân hàng TPHCM - PGS. Lê Thị Tuyết Hoa - TS Đặng Văn Dân đồng chủ biên) 1. Đặc điểm Do nguồn vốn ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lƣơng, bổ sung vốn lƣu động nên số vốn vay thƣờng nhỏ, nguồn vốn đƣợc quay vòng nhanh.
Trong khi đó đối tƣợng sử dụng vốn từ nguồn trung và dài hạn thƣờng có tài sản đảm bảo vì vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không đƣợc quay vòng nhiều. Thời gian thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thƣờng đƣợc sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn. Thông 17 thƣờng những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ đƣợc bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dƣới hình thái tiền tệ. Rủi ro tín dụng ngắn hạn thông thƣờng không cao.
Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì thế ít chịu ảnh hƣởng của biến động trong nền kinh tế. Ngoài ra, các khoản vay đƣợc cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, các tài sản đảm bảo. Đồng thời khoản vay thƣờng đƣợc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tƣơng lai. Lãi suất cho vay thƣờng thấp vì rủi ro của khoản vay không cao nhƣ khi vay tín dụng trung và dài hạn.
Hình thức tín dụng phong phú: để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng và góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cƣờng sức cạnh tranh trên thị trƣờng tín dụng, các ngân hàng thƣơng mại luôn không ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ ngắn hạn của mình. Điều đó đã làm cho các hình thức tín dụng phải đa dạng hóa nhƣ nghiệp vụ ứng trƣớc, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu. Vai trò Tín dụng ngắn hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều rộng, thúc đẩy mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những vai trờ quan trọng nhất của tín dụng ngắn hạn.
Thông qua việc cung cấp vốn tín dụng để mua nguyên liệu, tín dụng ngắn hạn góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Nền kinh tế nƣớc ta vẫn đang trong giai đoạn đang phát triển, chủ yếu là các doanh nghiệp vùa và nhỏ chiếm tỷ lệ cao, hoạt động kinh doanh gắn với địa phƣơng và theo mùa vụ. Vì thế, nhu cầu vay vốn ngắn hạn của các doanh nghiệp 18 chính là giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Kích thích tính năng động, linh hoạt, tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Tín dụng ngắn hạn là nguồn cung cấp vốn kịp thời cho các nhà kinh doanh trong trƣờng hợp họ gặp khó khăn về vốn tạm thời nhƣ mở rộng sản xuất, trả lƣơng công nhân…. Ngoài ra, vốn tín dụng ngắn hạn chỉ cung cấp trong một khoản thời gian ngắn, do đó đòi hỏi doanh nghiệp cần đẩy nhanh tiến độ sản xuất kinh doanh – kích thích tính năng động của các doanh nghiệp. Giúp tăng nhanh vòng quay của vốn: do tín dụng ngắn hạn là khoản tín dụng trong thời gian ngắn, vì vậy doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp nhanh chóng thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng. Qua đó thúc đẩy gia tăng vòng quay vốn.
CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về chất lƣợng tín dụng ngắn hạn Trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại, tín dụng là hoạt động mang lại phần lớn doanh lợi nhƣng cũng là hoạt động ẩn chứa nhiều rủi ro có tỷ lệ xảy ra cao. Trên thực tế, nhiểu nhân viên ngân hàng có quan điểm cho vay có tài sản đảm bảo, tài sản cầm cố thế chấp, nhƣng không quá tỷ kệ quy định là an toàn.