Luận văn: Nâng cao chất lượng tín dụng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Ba Đình

Nghiên cứu chất lượng tín dụng cho vay DNVVN tại Vietcombank Ba Đình. Phân tích thực trạng, hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng tín dụng DNVVN tại Vietcombank Ba Đình

Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, việc nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN tại Vietcombank Ba Đình không chỉ là mục tiêu kinh doanh mà còn là nhiệm vụ chiến lược, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của ngân hàng. Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) được xem là xương sống của nền kinh tế, chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp và đóng góp hơn 40% GDP cả nước. Hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa hiệu quả giúp các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn cần thiết, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm và thúc đẩy tăng trưởng. Vietcombank - Chi nhánh Ba Đình, với vị thế là một trong những chi nhánh trọng điểm, đã và đang khẳng định vai trò tiên phong trong việc cung cấp các giải pháp tài chính toàn diện. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động tín dụng, việc liên tục cải tiến và nâng cao chất lượng các khoản vay là yêu cầu cấp thiết. Phân tích sâu về các yếu tố cấu thành chất lượng tín dụng, từ chính sách tín dụng cho DNVVN đến quy trình cho vay DNVVN, sẽ mang lại cái nhìn toàn diện, làm cơ sở cho các giải pháp đột phá trong tương lai. Bài viết này sẽ hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đạt được mục tiêu này.

1.1. Tầm quan trọng của việc hỗ trợ tài chính DNVVN

Các DNVVN đóng vai trò không thể thiếu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Theo Luận văn của Nguyễn Thị Liên (2020), khu vực này tạo ra khoảng 50% tổng số việc làm cho nền kinh tế. Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn nhất của DNVVN là hạn chế về năng lực tài chính DNVVN và khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Việc cung cấp tín dụng kịp thời và hợp lý không chỉ giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp mà còn là đòn bẩy giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh. Hoạt động hỗ trợ tài chính DNVVN từ các ngân hàng thương mại, đặc biệt là Vietcombank, giúp các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, mở rộng thị trường và cải thiện quy trình quản lý. Một khi chất lượng tín dụng được đảm bảo, nguồn vốn sẽ được sử dụng đúng mục đích, tạo ra giá trị gia tăng cho cả doanh nghiệp và nền kinh tế, đồng thời giảm thiểu rủi ro tín dụng DNVVN cho ngân hàng.

1.2. Vai trò của Vietcombank Ba Đình trong hoạt động tín dụng

Kể từ khi thành lập vào năm 2004, Vietcombank Ba Đình đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một điểm sáng trong hệ thống. Chi nhánh không chỉ cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng mà còn đặc biệt chú trọng đến phân khúc Vietcombank cho vay doanh nghiệp. Giai đoạn 2017-2019 chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng về kết quả kinh doanh, với thu nhập lãi thuần tăng từ 252 tỷ đồng năm 2017 lên 436 tỷ đồng năm 2019. Sự tăng trưởng này có đóng góp quan trọng từ hoạt động tín dụng, cho thấy hiệu quả hoạt động tín dụng ngày càng được cải thiện. Việc duy trì và nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN là nền tảng để chi nhánh tiếp tục phát triển bền vững, giữ vững vị thế cạnh tranh và thực hiện tốt vai trò là kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế trên địa bàn.

II. Thách thức trong quản lý rủi ro tín dụng DNVVN hiện nay

Hoạt động cho vay DNVVN luôn tiềm ẩn nhiều thách thức, đòi hỏi một hệ thống quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ và hiệu quả. Một trong những khó khăn lớn nhất là tình trạng thông tin bất cân xứng, khi năng lực tài chính DNVVN thường không được phản ánh đầy đủ và minh bạch qua các báo cáo tài chính. Điều này gây khó khăn cho công tác thẩm định tín dụng doanh nghiệp, dẫn đến nguy cơ đánh giá sai rủi ro. Bên cạnh đó, bản thân các DNVVN có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh yếu, dễ bị ảnh hưởng bởi các biến động của thị trường, làm gia tăng khả năng phát sinh nợ xấu DNVVN. Các yếu tố vĩ mô như lạm phát, thay đổi chính sách hay khủng hoảng kinh tế cũng tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Đối mặt với những thách thức này, việc phân tích thực trạng tín dụng DNVVN và xác định các hạn chế trong quy trình hiện tại là bước đi tiên quyết để xây dựng các giải pháp giảm thiểu nợ xấu, đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng và nâng cao chất lượng danh mục cho vay tại Vietcombank Ba Đình.

2.1. Phân tích thực trạng tín dụng DNVVN giai đoạn 2017 2019

Dựa trên số liệu phân tích trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên (2020), thực trạng tín dụng DNVVN tại Vietcombank Ba Đình giai đoạn 2017-2019 có những điểm đáng chú ý. Doanh số cho vay DNVVN tăng trưởng đều đặn, thể hiện nỗ lực mở rộng thị phần của chi nhánh. Tuy nhiên, các chỉ số rủi ro cũng bộc lộ một số vấn đề. Cụ thể, dư nợ quá hạn và nợ xấu DNVVN có xu hướng biến động. Tỷ lệ nợ xấu Vietcombank tại chi nhánh, dù được kiểm soát, vẫn là một chỉ số cần được theo dõi chặt chẽ. Biểu đồ 2.1 trong luận văn cho thấy sự so sánh tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh Ba Đình với các chi nhánh lớn khác trên địa bàn Hà Nội, qua đó cho thấy áp lực cạnh tranh và rủi ro chung của thị trường. Những con số này phản ánh thực tế rằng, song song với tăng trưởng quy mô, công tác quản lý rủi ro tín dụng cần được tăng cường hơn nữa để đảm bảo chất lượng tài sản.

2.2. Hạn chế chính trong quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Mặc dù quy trình cho vay DNVVN tại Vietcombank được xây dựng bài bản, thực tiễn triển khai vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Công tác thu thập và xác minh thông tin từ hồ sơ vay vốn doanh nghiệp đôi khi chưa sâu sát, đặc biệt là các thông tin phi tài chính. Quá trình thẩm định tín dụng doanh nghiệp có lúc còn phụ thuộc nhiều vào tài sản đảm bảo mà chưa đánh giá toàn diện tính khả thi của phương án kinh doanh và dòng tiền trả nợ. Ngoài ra, công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay chưa được thực hiện thường xuyên và quyết liệt, dẫn đến việc không phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Những hạn chế này, nếu không được khắc phục, sẽ là nguyên nhân tiềm tàng gây phát sinh nợ xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh.

III. Bí quyết hoàn thiện chính sách tín dụng cho DNVVN hiệu quả

Để nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN, việc hoàn thiện chính sách tín dụng cho DNVVN là giải pháp nền tảng và mang tính chiến lược. Một chính sách tín dụng rõ ràng, nhất quán và phù hợp với thực tiễn sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động cấp tín dụng, giúp thống nhất trong toàn chi nhánh và hạn chế rủi ro đạo đức. Chính sách này cần xác định rõ các ngành nghề ưu tiên, các tiêu chí lựa chọn khách hàng, cũng như các giới hạn tín dụng và yêu cầu về tài sản đảm bảo một cách linh hoạt. Việc xây dựng một khung chính sách vững chắc không chỉ giúp bảo vệ ngân hàng trước những biến động khó lường mà còn tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ tài chính DNVVN một cách bền vững. Trọng tâm của việc hoàn thiện chính sách là cải tiến các công cụ và quy trình cốt lõi như hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và công tác thu thập thông tin, qua đó nâng cao tính chính xác trong việc ra quyết định, đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng và là giải pháp giảm thiểu nợ xấu hữu hiệu.

3.1. Tối ưu hóa mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng nội bộ

Mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng nội bộ là công cụ quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng. Việc tối ưu hóa mô hình này giúp lượng hóa rủi ro của từng khách hàng một cách khách quan, giảm sự phụ thuộc vào cảm tính của cán bộ tín dụng. Theo đề xuất trong Luận văn Thạc sĩ (2020), mô hình cần được cập nhật thường xuyên, bổ sung các chỉ tiêu định tính và phi tài chính như kinh nghiệm quản lý của chủ doanh nghiệp, uy tín trên thị trường, và chất lượng quản trị. Một hệ thống xếp hạng hiệu quả sẽ là cơ sở để phân loại khách hàng, từ đó áp dụng các chính sách lãi suất, hạn mức và tần suất giám sát phù hợp. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng doanh nghiệp mà còn giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, tập trung vào các khách hàng có tiềm năng tốt và rủi ro thấp.

3.2. Cải tiến công tác thu thập và xác minh thông tin khách hàng

Chất lượng của quyết định tín dụng phụ thuộc lớn vào chất lượng thông tin đầu vào. Do đó, việc cải tiến công tác thu thập thông tin từ hồ sơ vay vốn doanh nghiệp và các nguồn khác là cực kỳ cần thiết. Cán bộ tín dụng cần được đào tạo kỹ năng phỏng vấn, phân tích và kiểm tra chéo thông tin. Thay vì chỉ dựa vào báo cáo tài chính, ngân hàng cần chủ động thu thập thông tin từ nhiều kênh khác nhau như nhà cung cấp, khách hàng của doanh nghiệp, và các báo cáo ngành. Việc xác minh thực địa tại cơ sở sản xuất kinh doanh phải được thực hiện nghiêm túc để đánh giá đúng năng lực tài chính DNVVN và quy mô hoạt động thực tế. Xây dựng một cơ sở dữ liệu khách hàng tập trung, đầy đủ và đáng tin cậy sẽ là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động tín dụng trong tương lai.

IV. Phương pháp nâng cao chất lượng thẩm định và kiểm soát nội bộ

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, các phương pháp tác nghiệp trực tiếp liên quan đến con người và quy trình kiểm soát đóng vai trò quyết định đến việc nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN. Công tác thẩm định tín dụng doanh nghiệp và hệ thống kiểm soát nội bộ là hai trụ cột chính đảm bảo các khoản vay được phê duyệt đúng đắn và được giám sát chặt chẽ trong suốt vòng đời. Một quy trình thẩm định sắc bén giúp sàng lọc những khách hàng không đủ điều kiện ngay từ đầu, trong khi một hệ thống kiểm soát hiệu quả giúp phát hiện sớm và xử lý kịp thời các rủi ro phát sinh sau giải ngân. Đầu tư vào con người và công nghệ để củng cố hai lĩnh vực này là một chiến lược khôn ngoan, giúp Vietcombank Ba Đình không chỉ tăng trưởng về quy mô mà còn đảm bảo sự bền vững về chất lượng. Đây là yếu tố then chốt để quản lý rủi ro tín dụng một cách chủ động, thay vì bị động xử lý các khoản nợ xấu DNVVN khi chúng đã phát sinh.

4.1. Tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát sau khi cho vay

Giám sát sau giải ngân là một khâu thường bị xem nhẹ nhưng lại có tầm quan trọng đặc biệt trong quản lý rủi ro tín dụng. Việc tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất giúp ngân hàng nắm bắt kịp thời tình hình sử dụng vốn vay, tiến độ thực hiện phương án kinh doanh và biến động tài sản đảm bảo của khách hàng. Cán bộ tín dụng cần duy trì mối quan hệ thường xuyên với doanh nghiệp để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường như sụt giảm doanh thu, dòng tiền âm, hay thay đổi trong cơ cấu quản lý. Việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên các chỉ số tài chính và phi tài chính sẽ giúp ngân hàng có phương án ứng phó kịp thời, như tư vấn, cơ cấu lại nợ hoặc áp dụng các biện pháp thu hồi nợ sớm. Đây là một giải pháp giảm thiểu nợ xấu mang tính phòng ngừa cao.

4.2. Phát triển nguồn nhân lực chuyên trách cho vay doanh nghiệp

Con người là yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả hoạt động tín dụng. Chất lượng của đội ngũ cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến mọi khâu trong quy trình cho vay DNVVN, từ tiếp xúc khách hàng, thẩm định đến giám sát. Vì vậy, Vietcombank Ba Đình cần chú trọng công tác tuyển dụng, đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực chuyên trách mảng Vietcombank cho vay doanh nghiệp. Các chương trình đào tạo cần cập nhật kiến thức chuyên sâu về phân tích tài chính, thẩm định dự án, nhận diện rủi ro theo ngành nghề và các kỹ năng mềm như đàm phán, giao tiếp. Bên cạnh đó, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý và xây dựng văn hóa đạo đức nghề nghiệp vững mạnh để ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ trong hoạt động cấp tín dụng.

04/10/2025
Nâng cao chất lượng tín dụng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam chi nhánh ba đình vietcombank ba đình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại 1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) 1. Khái niệm Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020 là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

DNVVN là một trong các loại hình doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế. Mỗi quốc gia, mỗi khu vực khác nhau đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, do vậy việc phân loại doanh nghiệp không thể thống nhất giữa các quốc gia. Hiện nay, trên thế giới, không có khái niệm chuẩn mực về DNVVN. Tuỳ vào điều kiện và tình hình kinh tế mà mỗi nước sẽ quy định riêng về doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Việc xác định quy mô DNVVN chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của đất nước, tính chất ngành nghề và điều kiện của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tuy nhiên việc đưa ra một khái niệm về DNVVN cho riêng mình có vai trò quan trọng trong việc đưa ra chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNVVN có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.

Theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. 7 + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp nhỏ: + Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. + Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.

- Doanh nghiệp vừa: + Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. + Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Đặc điểm Phát triển DNVVN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong quá trình phát triển của mình, DNVVN đã bộc lộ những ưu điểm nhưng cũng có những không ít nhược điểm.

Việc nhận rõ được những điểm mạnh cũng như điểm yếu sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có biện pháp khắc phục khó khăn để nâng cao chất lượng hoạt động và khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng là một trong 8 những tiêu chí để các ngân hàng đánh giá một cách tương đối chính xác về khách hàng của mình từ đó nâng cao được chất lượng các khoản cho vay. - DNVVN có quy mô vừa và nhỏ nên có tính năng động, linh hoạt Quy mô vốn nhỏ đã tạo ra những mặt thuận lợi cho các DNVVN. Với số vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn cao do đó các nhà đầu tư dễ lựa chọn loại hình doanh nghiệp này khi quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh vì phần lớn các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sản xuất nhỏ nên sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh hơn những doanh nghiệp lớn.

Do việc thu hồi vốn ban đầu trong thời gian ngắn nên khả năng quay vòng vốn, tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh dễ dàng hơn. So với các doanh nghiệp lớn, các DNVVN năng động hơn trước những sự thay đổi của thị trường. Các doanh nghiệp lớn với quy mô và cơ sở vật chất hạ tầng đồ sộ thường kém nhanh nhậy và linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Trong khi đó, quy mô vừa và nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hay bộ máy quản lý khi có sự bất lợi từ môi trường kinh doanh, tăng khả năng thích nghi của các doanh nghiệp với những biến động của thị trường.

Khác với các doanh nghiệp lớn đòi hỏi một thị trường lớn, thậm chí là cần sự bảo hộ của Chính phủ và có sự độc quyền, các DNVVN hoạt động với số lượng đông đảo dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. DNVVN thường có tính tự chủ cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, sẵn sàng khai thác triệt để các cơ hội phát triển mà không ngại rủi ro. Chính điều này tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động hơn, khai thác tối đa mọi tiềm lực của đất nước. - Hệ thống tổ chức và quản lý ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt, tiết kiệm được chi phí.

Công tác điều hành mang tính trực tiếp, các quyết định được thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian vì vậy tiết kiệm được nhiều chi phí quản lý doanh nghiệp. 9 DNVVN có số lao động không lớn nên mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động khá chặt chẽ, gắn bó, tạo môi trường làm việc tốt.Việc tiếp xúc, gần gũi để nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người lao động dễ dàng, tạo điều kiện cho nhà quản lý trong việc đưa ra các chính sách quản lý phù hợp, giúp người lao động phát huy hết được khả năng của mình. - Thiếu và yếu tài sản đảm bảo gây khó khăn cho DNVVN trong việc tiếp cận nguồn vốn Các DNVVN thường gặp nhiều trở ngại trong việc vay vốn do năng lực vốn nội tại của các doanh nghiệp này còn hạn chế. Ở nước ta, có khoảng 42% doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 1 tỷ đồng; từ 1 đến 5 tỷ chiếm 47%; từ 5 đến 10 tỷ chiếm 8%; còn lại hơn 10 tỷ đồng.

Với số vốn tự có nhỏ bé như thế nên 90% số doanh nghiệp phải tự huy động, vay vốn các nguồn để sản xuất kinh doanh. Nguồn vay chủ yếu của các DNVVN là tín dụng ngân hàng, tuy nhiên các doanh nghiệp lại thường khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng do thiếu tài sản có giá trị lớn để thế chấp. Việc thiếu vốn sẽ làm doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, gặp khó khăn trong việc mua sắm các thiết bị máy móc, mở rộng sản xuất. - Đa số DNVVN áp dụng công nghệ và máy móc thiết bị còn lạc hậu Máy móc ít, công nghệ lạc hậu, khả năng và điều kiện áp dụng tiến bộ kĩ thuật rất hạn chế, lao động thủ công nhiều là một trong những hạn chế của các DNVVN.

Hạn chế này cũng bắt nguồn từ việc thiếu vốn của DNVVN. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Đây chính là nguyên nhân của tình trạng lãng phí trong sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí lên 1,5 lần đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và nâng suất thấp - Năng lực quản lý, điều hành của người lãnh đạo và chất lượng lao động còn thấp Do trong các DNVVN người sở hữu vốn đồng thời là người quản lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

Số lượng công nhân và người đứng đầu công ty được đào tạo chỉ chiếm hơn 20%. Cơ cấu 10 nghề nghiệp không cân đối, phần lớn đào tạo ngắn hạn, rất ít nhân sự kĩ thuật và kĩ thuật đầu đàn, năng suất lao động thấp, năng lực quản lý yếu. Những người lãnh đạo các DNVVN thường không có sự hiểu biết cặn kẽ về luật lệ kinh doanh trong nước cũng như luật lệ quốc tế. - Năng lực cạnh tranh trên thị trường còn yếu DNVVN chỉ chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường nên họ gặp nhiều áp lực về thâu tóm, xoá sổ từ phía các doanh nghiệp lớn.

Việc phát triển thị trường, thương trường, xây dựng thương hiệu của các DNVVN mới ở giai đoạn đầu. Các DNVVN chưa thật sự chú trọng đến việc mở rộng thị trường, chưa chú trọng đầu tư vào khâu phân tích, dự đoán xu thế chung của thị trường để phát triển và xây dựng những chiến lược lâu dài mà chủ yếu chỉ kinh doanh mang tính chất thời vụ đáp ứng nhu cầu tức thì của thị trường.Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và triển khai Luật doanh nghiệp, các DNVVN ở Việt Nam đã phát triển một cách nhanh chóng. Đến nay số lượng DNVVN trên cả nước chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp, sử dụng hơn 30% số lao động xã hội, tạo ra gần 40% mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu, chiếm 1/3 tổng thu ngân sách quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ