Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân hàng 123doc 4 Phát triển Việt Nam - Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch II - Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch II 123doc 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN Trong chương này, luận văn sẽ trình bày các khái niệm về ngân hàng phát triển, tín dụng đầu tư phát triển, cho vay đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư phát triển, chất lượng tín dụng,… nhằm làm nền tảng cơ sở để phân tích, so sánh, đánh giá hiện trạng và tình hình tín dụng đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam – Sở Giao dịch II (Sở Giao dịch II). TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Lịch sử phát triển và mục đích hoạt động của Ngân hàng Phát triển Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, ở thế kỷ 19, các quốc gia như Anh, Mỹ và một số nước ở Trung Âu phát triển và hoàn thành công nghiệp hóa nhờ vào hoạt động tài trợ của các “Ngân hàng Công nghiệp”. Các ngân hàng này cung cấp vốn trung dài hạn và chấp nhận rủi ro để tài trợ cho các dự án khai thác trong các lĩnh vực sản xuất mới.
Tuy nhiên, đến cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 1929-1932 thì các hoạt động tài trợ này bị thu hẹp lại do khả năng huy động vốn của các ngân hàng bị hạn chế và rủi ro đối với các dự án cho vay tăng cao quá mức. Trong hoàn cảnh đó, các Chính phủ và các tổ chức tài chính của Chính phủ đã cam kết sử dụng các nguồn vốn có nguồn gốc từ NSNN để bù đắp sự thiếu hụt về vốn dài hạn để tài trợ đầu tư. Các NHPT thuộc sở hữu của Chính phủ đầu tiên được thành lập như Nacional Finaciera (Mexico), CORFO (Chile), CAVENDES (Venezuela)… vào những năm 1930. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhiều quốc gia lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn để tài trợ cho các mục tiêu tái thiết và phát triển đất nước vì nguồn ngân sách bị hạn hẹp do chiến tranh, huy động tiết kiệm thì không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vốn khổng lồ trong giai đoạn này.
Để giải quyết vấn đề, các NHPT lần lượt ra đời ở các nước vào thập niên 50 nhằm tập trung nguồn vốn trong nước cũng như tạo kênh thu hút vốn từ các nước có nguồn tiết kiệm dồi dào với mục tiêu khôi phục và phát triển nền kinh tế sau chiến tranh. Một số NHPT hoàn toàn thuộc sở hữu Chính phủ (như ở khu vực Mỹ latinh), một số khác được sở hữu phần lớn bởi các cổ đông tư 123doc 6 nhân nhưng nhận được sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ như cam kết của Chính phủ đối với các khoản vay có thời hạn dài và chi phí thấp… Thập niên 60 là giai đoạn các NHPT thuộc sở hữu tư nhân có sự tham gia của Chính phủ nở rộ, nhưng đến đầu những năm 70 thì số lượng các NHPT thuộc sở hữu Chính phủ lại phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, cho dù tính chất sở hữu của các NHPT là gì thì các ngân hàng này đều có mối liên hệ chặt chẽ với Chính phủ, do vậy các chính sách tài trợ phát triển của Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHPT. Qua lịch sử phát triển của NHPT có thể thấy trong bất kỳ nền kinh tế nào đều tồn tại một số lĩnh vực, đối tượng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội nhưng lại khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng thương mại do một số nguyên nhân như nhu cầu vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, tỷ lệ sinh lời thấp, rủi ro cao… Chính vì thế, nền kinh tế cần phải có một loại hình trung gian tài chính chuyên tài trợ cho các đối tượng này, đó là NHPT.
Trong mỗi thời kỳ khác nhau của nền kinh tế, thông qua các chính sách tài trợ phát triển được Chính phủ quy định, NHPT sẽ tập trung tài trợ cho các đối tượng nhất định phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ đó, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của từng quốc gia. Khái niệm Ngân hàng Phát triển Ngân hàng phát triển là một tổ chức tài chính được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện chính sách tài trợ phát triển thông qua việc cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ khác theo chương trình hỗ trợ của Chính phủ nhằm đạt các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nói cách khác, Ngân hàng phát triển tập hợp các khoản vốn trung dài hạn trong và ngoài nước, sau đó tài trợ có trọng điểm và ưu đãi cho một số đối tượng nhất định trong nền kinh tế để đạt các mục tiêu Chính phủ đề ra trong từng thời kỳ nhất định. Chức năng của Ngân hàng Phát triển + Hoạt động phục vụ các mục tiêu ưu tiên của Chính phủ về phát triển kinh tế- xã hội như phát triển các ngành hạ tầng kinh tế- xã hội, công nghiệp quan trọng đặt nền tảng cho phát triển kinh tế bền vững; phát triển các ngành công nghệ cao, 123doc 7 các ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu; cải thiện cơ sở hạ tầng ở các vùng kinh tế chậm phát triển, đầu tư thu hẹp khoảng cách về phát triển kinh tế giữa các vùng của quốc gia.
+ Chính vì mục tiêu hoạt động của NHPT là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia nên đôi khi mâu thuẫn với mục tiêu hiệu quả tài chính, nhưng các dự án được chấp nhận tài trợ vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc tín dụng cơ bản thông qua việc tư vấn, thẩm định. Tuy không đặt mục tiêu vì lợi nhuận, nhưng Ngân hàng phát triển có nhiệm vụ thu hồi, bảo toàn vốn, bảo đảm thu bù chi và hiệu quả hoạt động để có thể tiếp tục tài trợ cho các dự án phát triển khác. + Cung cấp các khoản tín dụng trung dài hạn với các điều kiện ưu đãi về lãi suất cho vay, thời hạn vay vốn, thời gian ân hạn, đảm bảo tiền vay. + Khắc phục yếu điểm của hệ thống tín dụng thương mại đối với đầu tư phát triển.
+ Ngoài việc trực tiếp cung cấp nguồn vốn TDĐT cho nền kinh tế, một số NHPT đã và đang chuyển sang hoạt động như các ngân hàng đầu tư: thực hiện bảo lãnh phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp, tham gia tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, cung cấp tín dụng cho NHTM… Tóm lại, chức năng chính của NHPT là đảm bảo sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động ngân hàng, qua đó, tài trợ cho các dự án, chương trình mục tiêu của Chính phủ nhằm đảm bảo nền tảng cho phát triển kinh tế, cải thiện cơ cấu kinh tế, tài trợ cho các chính sách xã hội của Nhà nước cũng như cung cấp vốn cho các dự án cần thiết về kinh tế xã hội mà hệ thống ngân hàng thương mại không đảm nhận được. Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển + Về mục tiêu: NHPT hoạt động không vì lợi nhuận mà chủ yếu nhằm mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội theo định hướng, kế hoạch của Chính phủ trong từng thời kỳ. + Về khung pháp lý: các quốc gia đều xây dựng khung pháp lý riêng biệt như ban hành các Luật chuyên ngành không lệ thuộc vào Luật các tổ chức tín dụng/ngân 123doc 8 hàng thương mại (Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Philippines) hoặc Nghị định của Chính Phủ (Trung Quốc) để điều chỉnh hoạt động của các NHPT. + Về sở hữu: Hầu hết các NHPT đều thuộc sở hữu của Nhà nước, được Nhà nước cấp vốn trong giai đoạn ban đầu.
Sau đó, tùy theo sự phát triển của nền kinh tế, nhiều nước đã chuyển đổi hình thức sở hữu sang công ty cổ phần và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (Mỹ, Singapore, Philippines). + Về quản lý: Tất cả các quốc gia đều thực thi quyền quản lý Nhà nước đối với NHPT. Hình thức và phương pháp quản lý của Nhà nước được thực hiện dưới nhiều hình thức như Chính phủ trực tiếp quản lý hoặc bổ nhiệm các nhân sự cao cấp của NHPT hoặc giao cơ quan Nhà nước giám sát (thường là Bộ Tài chính/Bộ Kinh tế/Ngân hàng trung ương). + Về sự hỗ trợ của Nhà nước: Để NHPT hoạt động theo đúng định hướng, các quốc gia đều áp dụng nhiều biện pháp can thiệp trực tiếp như bảo đảm khả năng thanh toán; bảo lãnh cho hoạt động huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; cấp tín dụng trực tiếp, cấp bổ sung vốn; bù lỗ lãi suất trực tiếp; ưu đãi về thuế… + Về hoạt động: - NHPT huy động các nguồn vốn trung dài hạn trong và ngoài nước: vì đối tượng tài trợ của NHPT thường là các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường tài sản cố định để phục vụ cho các hoạt động của nền kinh tế nên thường có thời gian hoàn vốn dài, vì thế nguồn vốn tài trợ cũng phải có kỳ hạn tương ứng.
- NHPT tài trợ vốn lớn, thời gian sử dụng vốn dài với các điều kiện ưu đãi cho các dự án phát triển: đối tượng tài trợ của NHPT luôn gắn với các đối tượng được ưu tiên khuyến khích đầu tư phát triển của Chính phủ theo kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ nhất định. - NHPT kết hợp đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và hiệu quả tài chính của dự án: đối với các dự án có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì chỉ đánh giá hiệu quả tài chính sẽ không phản ánh đầy đủ sự đóng góp của dự án, thậm chí một số dự án có hiệu quả tài chính rất thấp nên nếu 123doc 9 NHPT chỉ dựa vào yếu tố lợi nhuận sẽ dẫn đến loại bỏ nhiều dự án có khả năng đem lại phúc lợi lớn cho nền kinh tế. - Ngoài hoạt động chính là cấp TDĐT ưu đãi cho các dự án phát triển thì NHPT còn thực hiện bảo lãnh, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho một số dự án phát triển có khả năng nhận tài trợ từ các nguồn vốn khác. Sự khác nhau cơ bản giữa Ngân hàng phát triển và Ngân hàng thương mại Chỉ tiêu so sánh Ngân hàng phát triển Ngân hàng thƣơng mại 1.