Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Trong thực tế, mọi lúc, mọi lĩnh vực đều tồn tại rủi ro. Rủi ro là khả năng xảy ra một số biến cố mà ta hoàn toàn không chắc chắn (xác suất xảy ra <1).
Xét về mặt kinh tế, rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn tới tổn thất về tài sản, làm giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gẩy tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo Timothy W.Koch: Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo tài liệu “Financial Institutions Management - A Modern Perpective” của A.Lange: Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn1.
Theo Ủy ban Basel: Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận. Theo khoản 1 điều 3 thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. c 5 Như vậy, ta có thể hiểu rủi ro tín dụng (RRTD) có các nội dung cơ bản sau: - RRTD xảy ra khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, gồm cả gốc và/hoặc lãi và/hoặc phí. Sự sai hẹn có thể là chậm thanh toán hoặc không thanh toán.
- RRTD sẽ dẫn tới tổn thất tài chính, tức là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. - Rủi ro là yếu tố khách quan nên không thể loại trừ hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra. Nguyên nhân gây ra RRTD - Những yếu tố thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: + Chính sách tín dụng không hợp lý: định hướng tín dụng sai (tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một ngành kinh tế hoặc một vài doanh nghiệp) hoặc chạy theo mục tiêu doanh số và lợi nhuận, dẫn tới cơ chế khuyến khích cho vay những khoản vay tiềm ẩn rủi ro cao, đồng thời các quy định về kiểm tra, kiểm soát lỏng lẻo, thiếu tiêu chí để xem xét, đánh giá khoản vay. + Thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý.
Khi ra quyết định cho vay đối với một khách hàng hoặc một lĩnh vực kinh tế, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có trình độ am hiểu về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng thì mới đưa ra được những nhận định, đánh giá mang tính khách quan và chính xác. Từ đó, có thể lường trước được những rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay. Việc này đòi hỏi cán bộ thực hiện thẩm định cho vay phải có kiến thức chuyên môn và những hiểu biết về kinh tế, xã hội để có thể đưa ra được những đánh giá đúng về khách hàng và khoản vay. + Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay, yếu kém về trình độ nghiệp vụ, vi phạm đạo đức kinh doanh.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều xây dựng cho hệ thống mình một quy trình tín dụng khá chặt chẽ từ khâu thẩm định khách hàng, ra quyết định cho vay, thủ tục đối với tài sản bảo đảm và các thủ tục cần thiết liên quan tới phát tiền vay và thu hồi nợ vay. Tuy nhiên, do cán bộ tín dụng yếu về chuyên môn hoặc cố tình làm sai để mưu lợi cá c 6 nhân nên dẫn tới việc phê duyệt các khoản vay chứa đựng nhiều rủi ro và làm tổn thất cho ngân hàng. + Định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết. Việc định giá tài sản bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: các yếu tố vật chất, pháp lý của chính tài sản định giá, các yếu tố thuộc về xu hướng kinh tế ảnh hưởng tới giá trị tài sản cần định giá.
Vì vậy, để định giá chính xác giá trị tài sản đòi hỏi người định giá ngoài các kiến thức chuyên môn về định giá, cần có sự am hiểu về thị trường và các chính sách kinh tế tác động tới giá trị tài sản. Khi tài sản được nhận làm tài sản bảo đảm cho khoản vay, để đảm bảo quyền của ngân hàng cho vay, yêu cầu bắt buộc đối với tài sản bảo đảm là phải được hoàn thiện các thủ tục pháp lý liên quan tới hợp đồng cầm cố/thế chấp, đăng ký giao dịch bảo đảm, lưu giữ các chứng từ gốc của tài sản. Tuy nhiên, vì nhiều lý do nên khi thực hiện việc nhận tài sản bảo đảm, các cán bộ ngân hàng đã bỏ qua một vài khâu tối quan trọng này. Hệ lụy của nó là khi phải xử lý tài sản bảo đảm thì ngân hàng lại thiếu cơ sở pháp lý cần thiết, do đó không thể xác lập được quyền của ngân hàng đối với tài sản bảo đảm và hậu quả là không thể thu hồi được tiền vay từ việc xử lý tài sản bảo đảm.
+ Thiếu giám sát và quản lý trước, trong và sau cho vay. + Công nghệ chưa phù hợp để quản trị rủi ro: công nghệ cao sẽ giúp sàng lọc khách hàng, ngành nghề có mức độ rủi ro cao. - Những yếu tố thuộc về phía khách hàng: + Trình độ quản lý kinh doanh kém: Các tổ chức, cá nhân vay vốn kinh doanh để mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, tuy nhiên năng lực quản lý kém nên khi quy mô càng lớn, càng bộc lộ nhiều khuyết điểm trong quản lý, dẫn tới vốn vay không được sử dụng hiệu quả. + Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả.
+ Gặp khó khăn về tài chính: do tổ chức kinh doanh bị thua lỗ, hàng hóa không tiêu thụ được,… hoặc cá nhân gặp rủi ro trong công việc, cuộc sống, dẫn tới khó khăn về tài chính, làm ảnh hưởng tới khả năng trả nợ ngân hàng. + Không trung thực, chây ỳ, có ý định lừa đảo ngân hàng. c 7 - Những yếu tố khách quan: + Sự thay đổi về chính sách của Chính phủ, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó làm ảnh hưởng tới tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng. + Môi trường tự nhiên gây ra những biến động về thời tiết, khí hậu làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên vay vốn.
+ Sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội: Môi trường này ảnh hưởng tới sức mạnh tài chính của người vay. Trong giai đoạn kinh tế phát triển, người vay vốn hoạt động hiệu quả, nhưng khủng hoảng kinh tế xảy ra sẽ tác động đến hầu khắp các lĩnh vực và bản thân người vay cũng chịu ảnh hưởng, bị giảm sút khả năng tài chính. Quản trị RRTD 1. Khái niệm quản trị RRTD Xuất phát từ những hậu quả của RRTD, việc quản trị RRTD là hoạt động tối cần thiết, là yêu cầu mang tính sống còn của một tổ chức tín dụng.
Có rất nhiều khái niệm về quản trị RRTD: Theo quan điểm của các nhà thống kê học hiện đại thì quản trị RRTD là quá trình ngăn ngừa tiềm năng xuất hiện của việc không thanh toán được nợ của khách hàng sẽ có thể xảy ra trong tương lai. Theo Alexandard Jamet: Quản trị RRTD là việc những nhà quản trị rủi ro bằng các nghiệp vụ của mình để không xảy ra hoặc hạn chế những tổn thất trong việc sử dụng vốn vay thông qua nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng. Theo Peter Ros: Quản trị RRTD là việc các nhà quản trị RRTD bằng các nghiệp vụ của ngân hàng để hạn chế khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Tóm lại: Quản trị RRTD trong ngân hàng là tổng hòa các biện pháp, các chính sách để nắm bắt được sự phát sinh và lượng hóa được những tổn thất tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, từ đó tìm cách giảm thiểu hoặc loại bỏ những tổn thất này.
Tuy nhiên, việc quản trị rủi ro gặp phải nhiều khó khăn về việc phân bổ nguồn lực. Do nguồn lực của chủ thể là hữu hạn, nên khi nhận biết được rủi ro, nhưng biện c 8 pháp đưa ra để hạn chế phải phù hợp với nguồn lực hiện có của chủ thể. Xét trong phạm vi hoạt động tín dụng của các NHTM, quản trị rủi ro tín dụng là quá trình trong đó các NHTM tiến hành xác định, phân tích, đánh giá các nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động cho cấp tín dụng của mình, qua đó chấp nhận hoặc ngăn ngừa, hạn chế sự phát sinh của nó, dựa trên một hệ thống các hoạt động có tổ chức và chuyên biệt. Hiện nay, tất cả các ngân hàng đều thiết lập và vận hành hệ thống quản trị RRTD, ở các mức độ khác nhau và tuân thủ thông lệ hoạt động chung trong phạm vi nền kinh tế nước đó và quốc tế.
Hậu quả của rủi ro tín dụng và sự cần thiết của công tác quản trị RRTD - Đối với ngân hàng bị rủi ro: Ngân hàng không thu hồi được hoặc không thu hồi được đầy đủ và đúng thời gian khoản vay (gồm gốc, lãi và các loại phí) làm cho doanh thu của ngân hàng bị giảm xuống.