Chương 1, Luật các TCTD năm 2010 được Quốc Hội khóa 12 thông qua vào tháng 7/2010(Luật số 47/2010/QH12) có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 quy định: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khá theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Các cách định nghĩa trên chỉ khác nhau về mặt thể hiện còn nội dung đều có điểm chung là tính chất nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Thông thường, các quốc gia sử dụng hai mô hình NHTM: mô hình truyền thống và mô hình hiện đại. Mô hình truyền thống: gồm có các ngân hàng đa năng và các ngân hàng chuyên doanh.
Mô hình hiện đại (phổ biến hiện nay): gồm có các NHTM, các định chế tài chính lớn, các ngân hàng phát triển, các ngân hàng có quy chế chuyên môn hoá, các ngân hàng có quy chế đặc biệt. Tại Việt Nam theo luật các tổ chức tín dụng, mỗi loại ngân hàng đều mang những nét đặc trưng phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cụ thể Việt Nam có các loại hình ngân hàng sau: NHTM quốc doanh: Loại ngân hàng này được coi là chiếm vị thế trong hệ thống ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng của nước ta. Hình thức hoạt động 7 là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập, cấp vốn và chịu sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đối với mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực sản xuất lưu thông, trong và ngoài nước. Một số ngân hàng quốc doanh nổi bật hiện nay là: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)… NHTM cổ phần: là loại hình ngân hàng được thành lập theo luật công ty cổ phần, thuộc sở hữu của các cổ đông trên cơ sở tự nguyện trong việc góp vốn và hoạt động theo luật pháp quy định.
Ngân hàng liên doanh: là loại hình ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh, vốn điều lệ là vốn góp của ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài có trụ sở chính tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Chi nhánh ngân hàng liên doanh: là một bộ phận của ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam chịu sự điều tiết của pháp luật ViệtNam. Ngân hàng đầu tư: là những ngân hàng tập trung huy động vốn trung, dài hạn và đầu tư trung, dài hạn vì sự phát triển, hoạt động đầu tư chủ yếu thông qua các dự án. Ngân hàng chính sách: thông thường là những NHTM 100% vốn Nhà nước hoặc NHTM cổ phần (sở hữu Nhà nước và các tổ chức kinh tế quốc doanh) được thành lập để phục vụ một hoặc một số chính sách của Nhà nước.
Ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chênh lệch giữa chi phí huy động vốn và sử dụng vốn sẽ được Nhà nước bù đắp. Ngân hàng hợp tác: là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyện thành lập nên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn và các dịch vụ ngân hàng. Nguyên tắc thành lập và hoạt động của loại hình này là tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự trang trải mọi chi phí và tự chịu trách nhiệm. Các hoạt động cơ bản của NHTM Khi nền kinh tế phát triển hơn, các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng và phức tạp, do đó các nhu cầu giao dịch tài chính ngày càng phong phú.
Để đáp ứng các chủ thể trong nền kinh tế, các dịch vụ ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng hoàn thiện hơn. Sau đây là các hoạt động cơ bản của NHTM: Huy động vốn (HĐV): Huy động vốn của NHTM là các hình thức mà NHTM sử dụng để thực hiện thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm hoặc thanh toán của các chủ thể trong nền kinh tế. NHTM có thể huy động vốn thông qua tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay… Vai trò của hoạt động HĐV đối với nền kinh tế là góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia, vì mặc dù NHTM chỉ là một trong số những chủ thể hoạt động trong nền kinh tế nhưng lại là chủ thể có ảnh hưởng lớn tới tình hình kinh tế tài chính của một quốc gia cũng như toàn thế giới. Các NHTM đơn lẻ góp mình vào hệ thống ngân hàng, các NHTM này có hoạt động tốt thì hệ thống ngân hàng cùng tình hình tài chính quốc gia mới ổn định và chắc chắn.
Để được như vậy, các NHTM phải có được nguồn vốn bền vững và liên tục gia tăng hướng tới phát triển bền vững. Do đó, góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia chính là vai trò đầu tiên của hoạt động HĐV. Hơn nữa, NHTM đóng vai trò là trung gian tài chính, là cầu nối giữa những người cần vốn và những người có vốn nhàn rỗi. Thực tế cho thấy dù các doanh nghiệp lớn mạnh cũng không thể có một lượng vốn lớn hơn tổng số tiền dự trữ của dân chúng.
Mỗi người trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ trở thành một nguồn vốn lớn. Thông qua các hình thức HĐV, phần lớn số vốn tích trữ tập trung qua hệ thống ngân hàng và được đưa vào công cuộc đầu tư mang tính chất sản xuất tạo ra của cải cho xã hội. Mặt khác, nhờ vào việc HĐV, NHTM mới làm tốt chức năng trung gian tín dụng điều hòa tiền tệ từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu, có như vậy người dân mới được cấp tín dụng, mới có khả năng trang bị đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi hoạt động HĐV của NHTM được thực hiện đúng và có hiệu quả, vốn tĩnh sẽ trở thành vốn động, nhờ đó những người cần vốn mở rộng đầu tư, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, sản phẩm xã hội tăng lên, mọi mặt của đời sống xã hội được cải thiện.
Các hình thức huy động vốn chủ yếu: - Huy động tiền gửi: Phần lớn nguồn vốn huy động của NHTM là từ nguồn tiền gửi của cá nhân, tổ chức kinh tế hoặc từ các tổ chức tín dụng khác. 9 - Phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM phần lớn sử dụng hoạt động này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín đụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế đồng thời, hoạt động này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh. - Đi vay: Hoạt động đi vay được các NHTM sử dụng nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay NHNN dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo. trong đó các khoản vay từ NHNN chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.
- Hoạt động huy động vốn khác: Ngoài ba hoạt động huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thông thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với các khoản vay. Cuối cùng là sử dụng vốn chủ sở hữu của NHTM: Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Lượng vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng.
Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể sử dụng vốn chủ sở hữu vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trên thực tế, khoản vốn này không ngừng tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang lại. Sử dụng vốn: Đây là hoạt động trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nghiệp vụ sử dụng vốn chủ yếu của ngân hàng là hoạt động cho vay và hoạt động đầu tư.
- Hoạt động cho vay Cho vay là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu của ngân hàng. Cho vay là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể là NHTM và người đi vay, trong đó NHTM chuyển giao tiền hoặc tài sản cho người đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời người đi vay cam kết hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng theo thời gian thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. 10 Cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. - Hoạt động đầu tư NHTM với tư cách là chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các hoạt động để tăng tối đa lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, NHTM còn sử dụng vốn để đầu tư như đầu tư kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng bạc đá quý, góp vốn vào các doanh nghiệp… - Hoạt động trung gian thanh toán Ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán cho khách hàng thông qua các hình thức như: thanh toán bằng séc, thanh toán ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thanh toán bằng thẻ ngân hàng,… Thông qua việc cung cấp dịch vụ thanh toán, các NHTM thu phí dịch vụ của khách hàng. Đây là một khoản thu nhập trong hoạt động của ngân hàng tuy nhiên tại Việt Nam, tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ thanh toán trong tổng thu nhập của NHTM chiếm tỷ trọng thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trên thế giới.