chương I của Thông tư quy định về bảo lãnh ngân hàng số 28/2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam :“ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”. Từ định nghĩa trên ta có thể thấy hoạt động bảo lãnh tồn tại ba chủ thể và mối quan hệ giữa ba chủ thể đó. Ba chủ thể đó là: 1/Bên bảo lãnh; 2/Bên được bảo lãnh; và 3/Bên nhận bảo lãnh. - Bên bảo lãnh Bên bảo lãnh bao gồm các tổ chức tín dụng như các ngân hành thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng hợp tác, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng.
- Bên được bảo lãnh Bên được bảo lãnh bao gồm các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng, hợp tác xã và các tổ chức khác, các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh và đấu thầu các dự án tại Việt Nam. - Bên nhận bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh bao gồm các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng 1. Đặc điểm của bảo lãnh Bảo lãnh có 5 đặc điểm: 1/ Bảo lãnh là một hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại; 2/ Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng; 3/ Bảo lãnh ngân hàng là mối 12 quan hệ đa phương, với sự tham gia của nhiều chủ thể; 4/ Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập và 5/ Bảo lãnh ngân hàng được tiến hành trên cơ sở chứng từ. - Bảo lãnh là một hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại: Bảo lãnh ngân hàng, xét về bản chất, vẫn được coi là một hình thức cấp tín dụng mặc dù ngay thời điểm ký kết hợp đồng bảo lãnh, không có sự chuyển giao vốn giữa tổ chức tín dụng với người được bảo lãnh.
Nghĩa vụ chi trả hộ của ngân hàng chỉ được thực hiện khi có sự vi phạm của khách hàng (bên được bảo lãnh). Bảo lãnh cũng có rủi ro như một khoản tín dụng. Khi cấp bảo lãnh, ngân hàng vẫn phải thẩm định giống như khi cấp một khoản tín dụng. - Bảo lãnh là một hoạt động ngoại bảng: Ngân hàng bảo lãnh đã dùng uy tín của mình để cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Khi phát hành cam kết bảo lãnh, ngân hàng chưa thực sự phải bỏ ra số tiền bảo lãnh, mà chỉ tiến hành thu phí bảo lãnh do đó sẽ không ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Đó chính là nguyên nhân khiến bảo lãnh ngân hàng được xếp vào hoạt động ngoại bảng của ngân hàng. Bảng cân đối kế toán chỉ thay đổi khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. - Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phương, với sự tham gia của nhiều chủ thể: Hoạt động bảo lãnh ngân hàng phải có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể.
Đó là: bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Hoạt động bảo lãnh không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh mà còn bao hàm mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Trong mối quan hệ đa phương này, quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh bao giờ cũng là quan hệ gốc, làm phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh. Trên cơ sở này sẽ xuất hiện thêm hai quan hệ nữa giữa bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh và giữa ngân hàng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh.1: Mối quan hệ trong hợp đồng bảo lãnh Mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thể hiện thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng kinh tế.
Quan hệ hợp đồng kinh tế được coi là khởi đầu của quan hệ bảo lãnh. Mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên được bảo lãnh thể hiện thông qua đơn xin bảo lãnh và hợp đồng cấp tín dụng bảo lãnh. Hợp đồng này quy định trách nhiệm, quyền hạn của ngân hàng phát hành và bên được bảo lãnh. Mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thể hiện thông qua thư bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh có quyền được hưởng bảo lãnh mà không có nghĩa vụ gì với ngân hàng. Ngân hàng không có quyền gì mà chỉ có nghĩa vụ thanh toán bảo lãnh khi bên thụ hưởng yêu cầu. Như vậy, ba hợp đồng trong quan hệ bảo lãnh hình thành trên cơ sở phụ thuộc lẫn nhau. Trước khi hợp đồng kinh tế được lập, các bên yêu cầu đối tác phải có bảo lãnh của ngân hàng.
Hợp đồng bảo lãnh hình thành căn cứ vào hợp đồng kinh tế. Thư bảo lãnh lại phụ thuộc vào hợp đồng bảo lãnh. - Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập: Mặc dù bảo lãnh ngân hàng là quan hệ đa phương, các quan hệ có mối liên hệ với nhau, tuy nhiên chúng lại độc lập nhau. Sự độc lập của bảo lãnh được hiểu là sự độc lập của quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh, cho dù sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh thì ngân hàng bảo lãnh cũng không thể vì thế mà có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
14 Ngân hàng sẽ bồi thường cho bên nhận bảo lãnh những thiệt hại do không thực hiện đúng như trong hợp đồng gốc với người được bảo lãnh. Việc thanh toán một bảo lãnh được căn cứ vào các điều khoản và điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh. Tức là, bên nhận bảo lãnh chỉ được quyền đòi tiền bảo lãnh đối với ngân hàng, nếu những điều kiện ghi trong cam kết bảo lãnh xảy ra và ngân hàng cũng không thể đưa ra các điều khoản trong hợp đồng gốc để từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình. Tính độc lập còn thể hiện ở chỗ, ngân hàng có quyền truy đòi khoản tiền bảo lãnh từ bên nhận bảo lãnh mà không hề bị ảnh hưởng bởi các điều khoản của hợp đồng gốc.
- Bảo lãnh ngân hàng được tiến hành trên cơ sở chứng từ: Cam kết bảo lãnh (bao gồm thư bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh) là chứng từ căn bản để ngân hàng thực hiện hoạt động bảo lãnh. Ngân hàng căn cứ vào văn bản đòi tiền và các chứng từ liên quan để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Vai trò của bảo lãnh Tiểu mục 1.2 “Vai trò của bảo lãnh” bao gồm 3 tiết: 1/ Vai trò của bảo lãnh đối với nền kinh tế; 2/ Vai trò của bảo lãnh đối với ngân hàng và 3/ Vai trò của bảo lãnh đối với doanh nghiệp. Vai trò của bảo lãnh đối với nền kinh tế Vai trò của bảo lãnh đối với nền kinh tế được thể hiện trên hai điểm sau đây: - Thứ nhất, bảo lãnh ngân hàng là công cụ trợ giúp các giao dịch kinh tế, đảm bảo sự tin tưởng lẫn nhau giữa người được bảo lãnh và người nhận bảo lãnh.
Sự tin tưởng giữa các bên là một yếu tố quan trọng để hình thành các mối quan hệ lâu dài. Chính nó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. - Thứ hai, bảo lãnh là một hình thức tín dụng nhằm san sẻ rủi ro trong các mối quan hệ kinh tế đồng thời đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Vai trò của bảo lãnh đối với ngân hàng Vai trò của bảo lãnh đối với ngân hàng thể hiện trên 4 điểm sau đây: - Thứ nhất, bảo lãnh đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng: Phí bảo lãnh ngày càng trở thành một trong những nguồn thu đáng kể của hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Khi khách hàng muốn sử dụng dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thì thông thường họ phải mở một tài khoản ký quỹ tại ngân hàng đó trong suốt thời gian bảo lãnh. Do vậy, ngân hàng có thể sử dụng khoản tiền này để cho vay vì đây là một nguồn ổn định. Số tiền ký quỹ phụ thuộc vào hợp đồng thương mại cũng như uy tín và mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng. Số tiền ký quỹ có thể từ 0% - 100% giá trị của hợp đồng.
Như vậy, với một khoản bảo lãnh mà ngân hàng có thể thu được thu phí dịch vụ cam kết, thu được lợi nhuận từ nguồn huy động vốn và thu lãi vay khi thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng - Thứ hai, bảo lãnh làm đa dạng các dịch vụ của ngân hàng: Với tiêu chí “không bỏ tất cả trứng vào một rổ”, các ngân hàng thường sử dụng chiến lược đa dạng hóa sản phẩm nhằm giảm thiểu rủi ro. Và một trong những cách thức thực hiện đó chính là đưa ra nhiều hình thức bảo lãnh và đa dạng phương thức phát hành. Bên cạnh đó, sự ra đời của bảo lãnh ngân hàng góp phần hoàn thiện sự đồng bộ trong gói sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tạo ra tiện ích lớn nhất cho khách hàng - Thứ ba, trên cơ sở các hợp đồng bảo lãnh, ngân hàng tạo được mối quan hệ với các doanh nghiệp, tạo điều kiện tìm kiếm các khách hàng mới tiềm năng - Thứ tư, bảo lãnh góp phần nâng cao uy tín và vị thế của ngân hàng: Đối với những ngân hàng có uy tín lớn và khả năng tài chính mạnh thì bảo lãnh ngân hàng sẽ dễ được chấp nhận. Phát triển hoạt động bảo lãnh giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với nhiều đối tượng khách hàng cũng như củng cố và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng 1.
Vai trò của bảo lãnh đối với doanh nghiệp Vai trò của bảo lãnh đối với doanh nghiệp thể hiện trên các điểm sau đây: 16 - Đối với người nhận bảo lãnh: Ngân hàng chỉ thực hiện bảo lãnh cho những cá nhân, tổ chức có uy tín cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.