CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG THPT 1. MỘT SỐ KHÁI NIÊM CƠ BẢN 1. Quản lý : Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. Ngay từ buổi sơ khai của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì sự tồn tại của mình, con người phải lao động chung, kết hợp lại thành tập thể; điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động tức là phải có quản lý.
Các Mác nói: " Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thi ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy minh, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng''1 (15, 39 ). Quản lý xã hội về thực chất là tổ chức khoa học lao động của toàn xã hội. Hai vấn đề cơ bản trong tổ chức khoa học lao động là phân công lao động và hợp tác lao động.KOONTZ cho rằng" Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lý là hĩnh thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất "(22, 20) Quan điểm của PARAMÔNÔP thì " Quản lý là một nghề nghiệp đòi hỏi một sự đào tạo khoa học, đòi hỏi những kiến thức đặc biệt chứ không chỉ cần uyên bác, thành thạo về kinh tế, kỹ thuật và tài tổ chức" (22, 19). Tác giả Phan Thế sủng thì quan niệm: " Quản lý vốn là một khoa học và cũng là một nghệ thuật để điều khiển một hệ thống xã hội từ vi mô đến vĩ mô hết sức năng động, phức tạp, vừa khép kín vừa có độ mở tương đối để đối nhân xử thế trong tổng hoa các mối quan hệ về tổ chức và mối quan hệ liên nhân cách giữa người quản lý với người dưới quyền, với cấp trên và với cộng đồng xã hộỉ,,{44, 5). 14 Hay có khái niệm cho rằng: hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhầm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của nó. Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đưa ra một định nghĩa như sau: " Quản lý là một quá trình kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể" (20, 194 ).
Tuy nhiên, một yếu tố không thể thiếu được trong quá trịnh quản lý là Thông tin. Thông tin có mặt trong suốt quá trình quản lý, nó giữ vai trò cơ bản, là điều kiện, phương tiện không thể thiếu được cho mọi hoạt động quản lý. Trên nền tảng khoa học quản lý, xuất hiện nhiều quản lý chuyên ngành, một trong những loại hình quản lý phong phú là QLGD 1. Quản lý giáo dục: Cũng như quản lý, QLGD được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo nghĩa tổng quát: QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các họat động xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triền xã hội. QLGD là quản lý một loại kinh tế xã hội đặc biệt nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội và xã hội hóa để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu kinh tế xã hội. Theo Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: " QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất"{40, 35). Tác giả Trần Kiểm cho rằng " Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến"(31,31).
15 Như vậy, Quản lý giáo dục có thể định nghĩa: QLGD (nói chung) và quản lý trường học (nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện mục tiêu của nhà .trường mà hạt nhân là dạy học, giáo dục đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội, đổi mới và phát triển để đưa giáo dục tiến lên trạng thái mới về chất thông qua thực hiện chức năng quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Quản lý nhà trường là một bộ phận trong hệ thống của QLGD. Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ.
Trường học vừa là khách thể cơ bản của các cấp QLGD, vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa có tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội. Phạm Minh Hạc quan niệm; " Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh"{25, 71). " Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục" (25, 71).
Quản lý trường học là một dạng quản lý có tính chái đặc thù, làm cho nó phân biệt với mọi loại quản lý xã hội khác, được quy định trước hết là bản chà"! lao động sư phạm của giáo viên, bản chất quá trình dạy học - giáo dục, trong đó học sinh vừa bị quản lý lại vừa tự giác hoạt động học tập của bản thân. Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động khác của nhà trường đều hướng vào dạy học và giáo dục đó. Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của người thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của học sinh diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.
Một khi nắm vững tính đặc thù của quản lý trường học, người CBQL trường học mới có thể đưa nhà trường tiến lên trạng thái thực hiện được mục tiêu quản lý của nhà trường. Lao động quản lý: Mác coi lao động quản lý là một dạng đặc biệt của lao động sản xuất, tham gia vào quá trình sản xuất xã hội để hoàn thành chức nănơ quản lý cần thiết cho quá trình đó. Tác giả Hoàng Tâm Sơn cho rằng: Lao động quản lý là loại hoạt động trí óc diễn ra theo qui trình: Quyết định - Tổ chức - Thực hiện quyết định - Kiểm tra - Điều chỉnh - Tổng kết. Lao động quản lý phải thông qua hệ thống tổ chức và tập thể lao động mới tác động vào sản xuất.
Người quản lỷ làm chức năng vạch phươns hướng, tổ chức, điều hoà, phối hợp, kiểm tra,. sự hoạt động của người lao động sản xuất. Sản phẩm của lao động không thể đánh giá trực tiếp được mà có thể đo bằng tính hiệu nghiệm của quyết định quản lý và bản thân tính hiệu nghiệm này đo bằng hiệu quả hoạt động của hệ quản lý. Lao động quản lý là một phạm trù có bản chất rất đặc biệt thể hiện ở các thành tố của nó như: đối tượng, công cụ, quy trình công nghệ, kỹ thuật và sản phẩm của nó.
Đối tượng của quản lý là thông tin. Người CBQL phải biết tiếp nhận, xử lý, lưu trữ, vận dụng các thông tin về hệ bị quản lý. Do đó, người CBQL phải tốn nhiều công sức, thời gian, trí tuệ cho việc thu nhận, xử lý thông tin. Công cụ của lao động quản lý là tư duy và phong cách tư duy, bao gồm toàn bộ học vấn và tình độ chuyên môn sâu của người CBQL.
Càng giàu thông tin càng quản lý tốt. Bên cạnh đó người CBQL cần phải có các phương pháp thâm nhập khoa học, các phương tiện kỹ thuật, các phương tiện giao tiếp và truyền thông. Sản phẩm của lao động quản lý là các quyết định quản lý. Đó là các chủ trương, mệnh lệnh, chỉ thị nhằm bảo đảm sự vận hành của hệ quản lý đi tới các mục tiêu.
Quyết định quản lý cũng là thông tín. Trong lao động quản lý, chỉ số chất lượng có ý nghĩa cực kỳ to lớn. Vì quyết định đúng hay sai, chất lượng hoạt động quản lý cao hay thấp có thể dẫn tới những hậu quả kinh tế xã hội khó lường. Chất lượng của lao động quản lỷ đòi hỏi ở người CBQL và đội ngũ thừa hành một trình độ nghiệp vụ, một trình độ tổ chức, kỹ thuật, chuyên môn và tập thể lao động có không 17 khí tâm lý lành mạnh.
Đây là khía cạnh tổ chức và tài tổ chức của người lãnh đạo. Một tập thể có người lãnh đạo tốt sẽ tạo nên " Hiệu ứng tổ chức", nó nhân sức mạnh của hệ quản lý lên rất nhiều lần. Lao động quản lý rất đa dạng, phức tạp và biến hóa không lập lại, không bị gò bó về không gian, nó lại bao gồm rất nhiều thao tác trí tuệ và vật chất rất khác nhau về bản chất, thậm chí chúng lại rất trái ngược nhau. Do đó, lao động quản lý là nặng nhọc và đầy trách nhiệm.
Với những tính đa dạng và phức tạp của lao động quản lý.