CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm và lý luận về dịch vụ tín dụng cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Một số khái niệm Dịch vụ tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế [8]. Dịch vụ tín dụng cho vay khách hàng cá nhân là các dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho đối tượng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cá nhân (như mua sắm các vật dụng cần thiết trong sinh hoạt), sử dụng cho mục đích cá nhân hợp pháp khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, hoặc đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh [8].
Đặc điểm dịch vụ tín dụng đối với khách hàng cá nhân * Việc cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân thường nhằm mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh nhỏ lẻ, do đó các khoản tín dụng này có giá trị không cao so với các khoản cấp tín dụng dành cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, số lượng khách hàng cá nhân là rất lớn, nhu cầu tín dụng đa dạng, phong phú, thị trường không ngừng tăng trưởng do sự phát triển của xã hội, nhu cầu tăng cao nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống do đó nhu cầu tín dụng phát sinh thường xuyên dẫn đến khối lượng giao dịch ngày càng tăng cao. * Các khoản vay của khách hàng cá nhân thường là những khoản tín dụng ngắn hạn và trung hạn, các khoản vay dài hạn thường ít phát sinh hơn. * Hồ sơ vay vốn đối với khách hàng cá nhân thường ít hơn rất nhiều so với doanh nghiệp do tính pháp lý đối với khách hàng cá nhân là rất đơn giản.
Bên cạnh đó, các khoản vay đối với cá nhân thường phát sinh theo từng món và rất ít khi lặp đi lặp lại nhiều lần. * Để đảm bảo rủi ro trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng thường tốn nhiều thời gian và tiền bạc vào việc thẩm định và kiểm soát sau vay. Bên cạnh đó, việc thu thập thông tin cá nhân là rất khó và thường thiếu chính xác nên các ngân hàng sẽ chấp 6 nhận chi phí cao để tránh rủi ro cho các khoản vay này. Ngoài ra, chi phí cho việc mở rộng hệ thống mạng lưới để tiếp cận khách hàng cá nhân là khá lớn và tùy thuộc vào địa bàn, khu vực.
* Lãi suất áp dụng đối với cá nhân thường cao hơn các khoản cấp tín dụng khác do chi phí lớn, nên ngân hàng áp dụng lãi suất cao để bù đắp chi phí về thời gian, thẩm định, quản lý. Bên cạnh đó, lãi suất thường áp dụng theo từng phân khúc khách hàng và mục đích vay vốn của cá nhân [8]. Vai trò của dịch vụ tín dụng cho vay khách hàng cá nhân * Đối với Ngân hàng thương mại - Đây là hoạt động mang lại thu nhập cho ngân hàng từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn và một số khoản chi phí khác theo quy định, do đó đây là hoạt động quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NH. - Góp phần đa dạng hóa các hoạt động của NH, giúp NH mở rộng đối tượng và phạm vi đầu tư từ đó giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.
- Tạo điều kiện cho các sản phẩm dịch vụ khác phát triển như: thanh toán, ngân quỹ, thu-chi hộ, ủy thác, bảo lãnh, kinh doanh chứng khoán-ngoại tệ… * Đối với khách hàng - Cung cấp nguồn vốn để quá trình sản xuất được diễn ra liên tục và ổn định thông qua việc điều tiết nguồn vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi tạm thời thiếu. - Giải quyết nhu cầu chi tiêu tạm thời của người dân, đáp ứng nhu cầu nâng cao mức sống. - Giúp KH đổi mới máy móc, áp dụng tiến bộ khoa học-kĩ thuật. Bổ sung nguồn vốn lưu động ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để tận dụng các cơ hội đầu tư.
* Đối với nền kinh tế - Phân phối lại nguồn vốn trong xã hội một cách hợp lý giúp thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao mức sống cho người dân từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội. - Thực hiện các chính sách ưu đãi tín dụng đối với ngành nghề hay khu vực nào đó, giúp chính phủ dịch chuyển cơ cấu kinh tế. 7 - Cung cấp nguồn vốn cho hoạt động xuất nhập khẩu, giúp mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa nước ta với quốc tế. - Hiện nay, khối lượng tín dụng NH chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế và giữ vị trí quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Lý luận về chất lượng dịch vụ tín dụng cho vay khách hàng cá nhân Ngày nay, tín dụng cá nhân tại Việt Nam đang phát triển mạnh và đang trở thành xu hướng chung của thị trường tín dụng. Thật vậy, số lượng khách hàng cá nhân ngày càng tăng và nhiều phân khúc đã thúc đẩy các ngân hàng đưa ra nhiều loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng như dịch vụ tiền gửi, dịch vụ thanh toán, và đặc biệt là dịch vụ tín dụng, thể hiện qua 2 nhóm chính là cho vay cá nhân và thẻ tín dụng. Khái niệm về dịch vụ, chất lượng và chất lượng dịch vụ * Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó [8].
Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố, mở rộng những mối quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Dịch vụ giao dịch trực tiếp “là khoảng thời gian mà khách hàng trực tiếp giao dịch với doanh nghiệp dịch vụ”. Định nghĩa này mang tính khái quát hơn so với các định nghĩa của Surprenant và Solomon (1987) và Keaveney (1995), trong đó chỉ đề cập đến sự giao dịch trực tiếp giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp dịch vụ.
Nói chung, có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, song mỗi quan niệm sẽ hướng doanh nghiệp đưa ra những chiến lược khác nhau về cách thức tổ chức chuỗi cung ứng, các chính sách chăm sóc khách hàng để đạt hiệu quả tối ưu. Tuy nhiên, ta có thể hiểu theo một cách tổng quan rằng, dịch vụ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật 8 chất, nó là cả một quá trình gắn liền với khách hàng, bắt đầu từ khi họ mua hàng đến khi có những cảm nhận đầu tiên để tạo ra sự hài lòng hay không hài lòng với hình ảnh của một doanh nghiệp. * Chất lượng là một khái niệm khá quen thuộc nó xuất hiện đầu tiên tại Nhật Bản và trở thành yếu tố quan tâm hàng đầu của những ngành sản xuất vật chất vừa hướng đến tính hữu dụng và tiện lợi của sản phẩm, vừa để giảm thiểu những lãng phí trong quy trình sản xuất. Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa : “ Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” [8].
Khái niệm chất lượng có một số đặc điểm sau: - Chất lượng được đo lường bằng sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu tiếp nhận thì bị coi là chất lượng kém, mặc dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm có thể rất hiện đại. - Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. - Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.
Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội. Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, khách hàng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quá trình sử dụng. * Chất lượng dịch vụ là khái niệm được rút ra từ khái niệm chất lượng và khái niệm dịch vụ. Chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng, như khách hàng mong muốn. Do nhu cầu của khách hàng thì đa dạng, cho nên chất lượng cũng sẽ có nhiều cấp độ tuỳ theo đối tượng khách hàng. - Chất lượng dịch vụ là một yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ một ngân hàng thương mại nào. Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng đã 9 được thực hiện từ nhiều năm mang lại sự phát triển cả về lý thuyết và thực tiễn đặc biêt là việc phát triển và kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ trong ngành ngân hàng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới.
- Chất lượng dịch vụ đã được bắt đầu vào những năm 1980 như một xu hướng trên toàn thế giới, khi các nhà tiếp thị nhận ra rằng chỉ có sản phẩm chất lượng mới có thể được bảo đảm để duy trì lợi thế cạnh tranh Theo các nhà nghiên cứu thì chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ [7]. Các yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ * Chất lượng dịch vụ tín dụng đối với khách hàng cá nhân Dịch vụ tín dụng đối với khách hàng cá nhân là một hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất.