Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu của tác giả từ lý do chọn đề tài; mục tiêu tổng quát và chi tiết; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp thực hiện nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu mà đề tài thực hiện. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về dịch vụ Theo Kotler và Amstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, cũng cố và mở rộng những quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng. Dịch vụ còn được hiểu là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml và Britner, 2000, dẫn theo Nguyễn Thị Phương Trâm, 2008). Dịch vụ là một chuỗi các hoạt động vô hình được diễn ra giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ, hoặc giữa khách hàng và các thiết bị cung ứng dịch vụ khác nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng (Gronroos, 2000).
Theo Mudie và Pirrie (2006) dẫn theo Kazi Omar Siddiqi (2011), dịch vụ có những đặc điểm cơ bản sau: - Tính vô hình (Intangible) Tính vô hình là một đặc điểm chính của dịch vụ. Dịch vụ không giống như những sản phẩm vật chất khác, dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể nhìn thấy được, không thể cân đo, đong đếm một cách cụ thể như đối với vật chất hữu hình. Khi có nhu cầu mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể dùng thử hoặc yêu cầu kiểm định, thử nghiệm trước khi mua nhưng đối với sản phẩm dịch vụ thì không thể. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
- Tính không đồng nhất (heterogenous) Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tuỳ thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Do đó, dịch vụ có thể không giống nhau giữa những lần phục vụ khác nhau mặc dù có 8 thể cùng một người thực hiện, cùng một loại dịch vụ. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan và trong từng trường hợp cụ thể.
- Tính không thể tách rời (Inseparable) Tính không thể tách rời của dich vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Đối với hàng hoá vật chất thì sản phẩm được sản xuất ra, nhập kho, phân phối thông qua nhiều kênh trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hoá thông thường, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối.
Còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. - Tính không thể cất trữ (Unstored) Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể để lưu giữ dịch vụ rồi đem ra sử dụng lại được. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định và có thể dự đoán trước.
Nhưng thực tiễn, nhu cầu dịch vụ thường không ổn định, nên khi thực hiện cung ứng dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong vấn đề sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật.2 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ Có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ, các định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Theo tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam, TCVN 5814-1994 trên cơ sở tiêu chuẩn ISO-9000 đã định nghĩa: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn. Như vậy, “khả năng thỏa mãn nhu cầu” là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá về chất lượng sản phẩm. 9 Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã định nghĩa: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.
Theo Lewis và Mitchell (1990), Chất lượng dịch vụ lại mang tính tương đối và chủ quan, phụ thuộc vào những nhận thức và các mong đợi mà khách hàng có được với sự tôn trọng về những lời đề nghị dịch vụ. Theo Parasuraman và cộng sự (1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Chia sẻ quan điểm với Parasuraman, Lewis và Booms (1983) cũng cho rằng chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất Chất lượng dịch vụ có liên quan đáng kể đến lợi nhuận, sự hài lòng của khách hàng, duy trì khách hàng và khả năng cạnh tranh (Oliveir, 2002, dẫn theo Kamal K.
Theo Gronroos (1984), chất lượng dịch vụ là sự so sánh giữa giá trị mong đợi và thực tế dịch vụ cung cấp. Chất lượng dịch vụ bao gồm 3 khía cạnh: (1) Chất lượng chức năng, (2) Chất lượng kỹ thuật, (3) Hình ảnh doanh nghiệp. Trong lĩnh vực ngân hàng, chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa giá trị mong đợi và thực tế dịch vụ mà ngân hàng cung cấp (Bahia và Nantel, 2000, dẫn theo Jinea Akhtar, 2011).3 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ ngân hàng Trong thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ, cũng như tìm ra các đặc điểm của chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng. 10 Theo Sasser (1978, dẫn theo Jinea Akhtar, 2011), chất lượng dịch vụ ngân hàng được thể hiện qua các mức độ cảm nhận của khách hàng về vật chất, trang thiết bị và nhân viên phục vụ.
Theo Lehtinen (1982), dẫn theo Jinea Akhtar (2011), chất lượng dịch vụ được đo lường qua môi trường thực hiện dịch vụ, hình ảnh ngân hàng và sự tương tác giữa nhân viên và khách hàng. Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử thể hiện qua 6 yếu tố: sự chính xác, giải đáp các khiếu nại, sự tiện lợi, hiệu quả, khả năng tiếp xúc và giải quyết nhanh chóng các vấn đề (Joseph (1999, dẫn theo Kamal K.Gupta, 2012) Siu và Mou (2005, dẫn theo Kamal K. Gupta, 2012) đưa ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: uy tín, hiệu quả, quản trị các rủi ro và bảo mật. Parasuraman (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi 5 thành phần: Phương tiện hữu hình, sự tin cậy, khả năng đáp ứng, sự đảm bảo, mức độ đồng cảm.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ 2.1 Yếu tố khách quan - Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội: Được các nước trong khu vực và trên thế giới đánh giá là một quốc gia đang trên đà phát triển, Việt Nam thực sự là một thị trường vô cùng hấp dẫn không chỉ đối với các Ngân hàng trong nước mà còn đối với các Ngân hàng nước ngoài.
Tuy nhiên với thói quen cất giữ và sử dụng tiền mặt đã ăn sâu vào các tầng lớp dân cư khiến cho các dịch vụ Ngân hàng hiện đại khó lòng thâm nhập vào đời sống người dân. Tâm lý e sợ cái mới, ngại thay đổi thói quen cũng như trình độ nhận thức còn thấp nên chưa tiếp xúc được với các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Do đó việc thay đổi thói quen, tập quán sẽ tác động vào khuynh hướng tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư cũng như thị hiếu hay sự ưa thích của người dân đối với các loại hình dịch vụ ngân hàng. Lòng tin của người dân vào các dịch vụ từ đó mới thúc đẩy khuynh hướng tiêu dùng cởi mở của khách hàng tới các dịch vụ ngân hàng.
11 - Môi trường pháp lý: Trong những năm qua, Chính phủ và NHNN đã thông qua nhiều luật, quy chế liên quan đến hoạt động ngân hàng, đồng thời sửa đổi các văn bản pháp lý này cho phù hợp với yêu cầu thay đổi của cơ chế kinh tế mới. Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng vẫn phải hoạt động trong một môi trường pháp lý chưa đồng bộ, các quy định vẫn còn chồng chéo, nhiều khi chưa phù hợp với tình hình thực tế. Các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng chủ yếu xây dựng trên cơ sở các quy trình thao tác giao dịch thủ công, mang nặng tính giấy tờ, cồng kềnh và phức tạp trong xử lý. Trong khi đó quá trình hiện đại hóa ngân hàng đòi hỏi áp dụng công nghệ mới, những quy trình tác nghiệp mới nên nhiều khi muốn đưa sản phẩm mới ra thị trường, ngân hàng phải xin ý kiến NHNN gây chậm trễ trong quá trình triển khai.
- Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin: Hạ tầng công nghệ thông tin cũng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển các sản phẩm, dịch vụ. Hạ tầng công nghệ thông tin bao gồm: Hạ tầng viễn thông (internet, điện thoại), số lượng máy ATM, POS (các điểm giao dịch chấp nhận thanh toán qua thẻ). Đây cũng là cơ sở để triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng hiện đại trực tuyến, các dịch vụ thẻ. Việc đầu tư vào công nghệ thông tin giúp cho các NH có thể quản trị dữ liệu, khai thác và sử dụng thông tin, đặc biệt là quản lý thông tin khách hàng, đồng thời nhờ công nghệ thông tin các dịch vụ đơn giản hóa, giảm rủi ro và nâng cao chất lượng dịch vụ.