phần mở đầu và phần kết luận, đề tài nghiên cứu đƣợc chia thành ba chƣơng với nội dung cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng bán lẻ Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Bến Lức Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngân hàng thƣơng mại cổ phần công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Bến Lức 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Dịch vụ Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh và marketing đã đƣa ra rất nhiều khái niệm dịch vụ. Theo Philip Kotler và Amstrong (1991): “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Khái niệm dịch vụ trong lĩnh vực quản lý chất lƣợng theo TCVN ISO 8402:1999: “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động khi giao tiếp giữa ngƣời cung ứng với khách hàng và do các hoạt động nội bộ của ngƣời cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Theo hai nhà nghiên cứu Valarie A.Zeithaml và Mary J.Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho KH, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Dịch vụ có những đặc tính khác với các sản phẩm hàng hóa: Tính vô hình (intangible): Một dịch vụ thuần túy không thể đƣợc đánh giá bằng cách sử dụng bất kỳ giác quan cơ thể nào trƣớc khi nó đƣợc mua. Vì vậy, để giảm sự không chắc chắn, ngƣời mua sẽ tìm kiếm các bằng chứng của chất lƣợng dịch vụ từ những đối tƣợng họ tiếp xúc, trang thiết bị mà họ thấy đƣợc. Tính không đồng nhất (heterogeneous): Chất lƣợng dịch vụ thƣờng không đồng nhất vì các sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào ngƣời cung cấp, hoàn cảnh tạo ra dịch vụ.
Dịch vụ đƣợc cung cấp khác nhau ở từng thời điểm, tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, nhân viên phục vụ, đối tƣợng và địa điểm phục vụ. Vì vậy, việc đánh giá chất lƣợng hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thƣớc đo chuẩn mà phải xét nhiều nhân tố liên quan khác trong trƣờng hợp cụ thể. 12 Tính không thể tách rời (inseparable): Dịch vụ không thể phân chia giữa giai đoạn sản xuất và tiêu thụ. Một dịch vụ đƣợc tiêu dùng khi nó đang đƣợc tạo ra và khi ngừng quá trình cung ứng cũng đồng nghĩa với việc tiêu dùng dịch vụ ấy dừng lại.
Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không thể tách rời, thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia. Sự cung cấp và sử dụng dịch vụ diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Cũng vì quá trình tiêu dùng sản phẩm dịch vụ đồng thời với việc cung ứng dịch vụ, do vậy không thể dấu đƣợc các sai lỗi của dịch vụ. Tính không thể cất trữ (unstored): Dịch vụ đƣợc sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Do vậy, dịch vụ nói chung là không thể lƣu trữ đƣợc nhƣ các sản phẩm hàng hóa, nghĩa là sản phẩm dịch vụ không thể sản xuất sẵn rồi lƣu vào kho chờ tiêu thụ, cũng không thể mua đi bán lại hoặc tái sử dụng.2 Chất lƣợng dịch vụ Những đặc trƣng của dịch vụ đã tạo ra rất nhiều khác biệt trong việc định nghĩa chất lƣợng sản phẩm và chất lƣợng dịch vụ. Trong khi ngƣời tiêu dùng có thể đánh giá chất lƣợng của sản phẩm hữu hình một cách dễ dàng thông qua hình thức, kiểu dáng sản phẩm, bao bì đóng gói, giá cả, uy tín, thƣơng hiệu… thông qua việc chạm, nắm, ngửi, nhìn trực tiếp sản phẩm để đánh giá thì điều này lại không thể thực hiện đƣợc với sản phẩm dịch vụ vô hình vì chúng không đồng nhất với nhau. Nhiều học giả đã đƣa ra các khái niệm chất lƣợng dịch vụ nhƣ sau: Chất lƣợng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng đƣợc nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis và Mitchell, 1990; Asubonteng và ctg, 1996; Wisniewski và Donnelly, 1996). Theo Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) thì chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của KH và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ.
13 Zeithaml (1987) cho rằng chất lƣợng dịch vụ là những đánh giá của khách hàng về những điểm nổi trội của thực thể, nó là một dạng của thái độ và là kết quả từ việc so sánh sự mong đợi và nhận thức về sự thực hiện mà họ nhận đƣợc. Theo TCVN ISO 9000:2000, chất lƣợng dịch vụ là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của DV thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của KH và các bên có liên quan. Nhƣ vậy, chất lƣợng dịch vụ là một dạng thái độ, một sự cảm nhận mang tính so sánh của khách hàng giữa mong đợi của họ về dịch vụ và nhận thức của chính họ với những gì mà họ nhận đƣợc từ nhà cung cấp dịch vụ. Đồng thời, khi đề cập đến một dịch vụ có chất lƣợng, không nên nghĩ đó là một dịch vụ tuyệt vời mà phải nghĩ đó là một dịch vụ đƣợc cung cấp hoàn chỉnh, đúng nhƣ cam kết của ngân hàng với khách hàng của mình.
Chất lƣợng còn đƣợc thể hiện ở sự ổn định, sự đều đặn của các dịch vụ cung cấp cho khách hàng, từ KH này sang KH khác, từ thời điểm này sang thời điểm khác.3 Chất lƣợng dịch vụ ngân hàng bán lẻ Khái niệm chất lƣợng dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 nhắc đến các hoạt động của NHTM đó là: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nƣớc và ngoài nƣớc; cấp tín dụng dƣới các hình thức; mở tài khoản thanh toán cho KH; cung ứng các phƣơng tiện thanh toán; cung ứng các dịch vụ thanh toán. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đƣợc hiểu là tất cả những hoạt động của ngân hàng, cung cấp sản phẩm ngân hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng giao dịch và tìm kiếm lợi nhuận từ những hoạt động nói trên. Những dịch vụ ngân hàng cung cấp dành cho đối tƣợng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp siêu vi mô bao gồm dịch vụ tín dụng cá nhân, bảo lãnh thanh toán, huy động cá nhân, dịch vụ tiền gửi, dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác… 14 Nhƣ vậy, chất lƣợng dịch vụ NH bán lẻ đƣợc xác định bao gồm các yếu tố: Thứ nhất là sản phẩm dịch vụ đƣợc thiết kế phù hợp để thỏa mãn tối đa nhu cầu của đối tƣợng khách hàng bán lẻ. Thứ hai là đội ngũ nhân viên thực hiện dịch vụ, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phục vụ chuyên nghiệp, tác phong nhanh nhẹn, thái độ phục vụ chu đáo, nhiệt tình… Thứ ba là quy trình, thủ tục cung ứng dịch vụ rõ ràng, đơn giản, đƣợc thực hiện nhanh chóng, chính xác, đƣợc hỗ trợ bởi các trang thiết bị hiện đại.
Thứ tƣ là mạng lƣới kênh phân phối thuận tiện, dễ tiếp cận hay truy cập, hƣớng đến phục vụ khách hàng tốt nhất. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đặc điểm khách hàng bán lẻ Số lƣợng khách hàng lớn và thƣờng phân tán về mặt địa lý. Thói quen thích mua gần. Nhu cầu nhỏ, độ đàn hồi cao.
Không có những mối quan hệ qua lại, ràng buộc với các ngân hàng. Thông thƣờng việc sử dụng dịch vụ ngân hàng là để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, phục vụ cho đời sống và sinh hoạt gia đình. Thời gian có liên quan đến quyết định thƣờng ngắn hơn và không mang tính chất hình thức nhƣ khách hàng tổ chức. Việc mua dịch vụ chịu nhiều nhân tố ảnh hƣởng: tâm lý, xã hội và các nhân tố thuộc về bản thân họ., 2005) Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đối tƣợng khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ vô cùng lớn nhƣng giá trị từng khoản giao dịch không cao.
Yếu tố tâm lý là một đặc trƣng quan trọng của đối tƣợng khách hàng này (Mushtaq A. Họ rất nhạy cảm với các thay đổi lãi suất, chất lƣợng dịch vụ, cách thức phân phối, chính sách chăm sóc của các dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, đối tƣợng khách hàng này ở các nƣớc đang phát triển có tâm lý ngại vay mƣợn ngân hàng và có thói quen sử dụng tiền mặt. Nhƣ vậy, các 15 ngân hàng thƣơng mại cần phải tìm cách để thay đổi thói quen, tâm lý e sợ của khách hàng, khuyến khích họ sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
Khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ hầu hết là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu vi mô nên giá trị mỗi lần cung cấp dịch vụ thƣờng không lớn. Vì vậy, ngân hàng cần xây dựng hệ thống dịch vụ cung ứng cho nhóm đối tƣợng này có tính tích hợp, kết hợp cung ứng nhiều dịch vụ đối với một khách hàng. Mục tiêu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là khách hàng cá nhân nên các dịch vụ thƣờng đơn giản, dễ thực hiện. Một trong những yếu tố thành công của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là kênh phân phối sản phẩm (Bahia và Nantel, 2000).
Các thành tựu của công nghệ hiện đại giúp ngân hàng thƣơng mại cung cấp dịch vụ thông qua hệ thống phân phối trực tuyến, giúp khách hàng sử dụng dịch vụ nhiều hơn và hài lòng hơn. Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đối với nền kinh tế Dịch vụ NHBL trực tiếp làm biến đổi từ nền kinh tế tiền mặt sang nền kinh tế không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nƣớc, giảm chi phí xã hội của việc thanh toán và lƣu thông tiền mặt. Bên cạnh đó, thông qua dịch vụ ngân hàng bán lẻ, quá trình chu chuyển tiền tệ đƣợc tăng cƣờng và có hiệu quả hơn, tận dụng và khai thác các tiềm năng về vốn để góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, nâng cao đời sống của ngƣời dân.