Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu - Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Chương 5: Kết luận và nêu hàm ý quản trị. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài gồm lý thuyết về dịch vụ ngân hàng, lý thuyết về chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và mối liên hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh đó, tác giả còn lược khảo một số nghiên cứu liên quan và đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng 2.1 Dịch vụ Theo quan điểm của chuyên gia marketing Phillip Kotler, dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của dịch vụ có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất.
Gronroos (1984) cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng”. Theo Zeithaml và Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Như vậy, dịch vụ bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, vượt ra ngoài dịch vụ cơ bản, phù hợp với giá cả, hình ảnh thương hiệu và uy tín có liên quan.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có các đặc điểm cơ bản sau: - Tính đồng thời, không chia cắt. Quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ được tiến hành đồng thời, cùng một lúc với sự hiện diện của khách hàng trong suốt thời gian sản xuất.
Do đó, chất lượng dịch vụ sẽ rất khó đoán trước mà sẽ dựa 8 theo phán đoán chủ quan cao. Ngoài ra, dịch vụ không thể được tích lũy và dự trữ cũng như không thể kiểm nghiệm trước. - Tính không đồng nhất, không ổn định. Chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào người thực hiện, thời gian và địa điểm cung cấp.
Chính vì thế, tổ chức không thể dựa vào lần kiểm tra cuối cùng để đánh giá chất lượng dịch vụ. Tổ chức có thể khắc phục bằng cách đầu tư vào việc tuyển chọn, đào tạo và huấn luyện nhân viên. Đồng thời chuẩn hóa các quy trình thực hiện, theo dõi và đo lường sự thỏa mãn của khách hàng thường xuyên. - Tính vô hình.
Khách hàng chỉ nhận được sản phẩm dịch vụ ngay khi dịch vụ được cung cấp. Vì thế, cần có những dấu hiệu hay bằng chứng vật chất về chất lượng dịch vụ như con người, thông tin, địa điểm, thiết bị, giá cả… - Tính mong manh, không lưu giữ. Người cung cấp dịch vụ cũng như người tiếp nhận dịch vụ không thể lưu giữ lại dịch vụ, cũng không thể đem tiêu thụ hay bán ra trong một thời gian sau đó.3 Phân loại dịch vụ Dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau về các loại dịch vụ đã được cung cấp hiện nay, dịch vụ được phân loại như sau: - Theo chủ thể thực hiện dịch vụ. Bao gồm Nhà nước, các tổ chức xã hội và các đơn vị kinh doanh.
Nhà nước thực hiện các dịch vụ công cộng như trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính và bưu điện. Các tổ chức xã hội cung cấp các dịch vụ như hoạt động vì cộng đồng, hoạt động từ thiện. Các đơn vị kinh doanh cung cấp các dịch vụ như ngân hàng, nhà hàng, khách sạn và bất động sản. Đối tượng phục vụ của các chủ thể trên chia thành dịch vụ cho người sản xuất và dịch vụ cho khách hàng.
Dịch vụ cho người sản xuất gồm dịch vụ tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, cho thuê; dịch vụ vận chuyển và phân phối như 9 đường biển, đường sắt, hàng không; dịch vụ chuyên nghiệp và kỹ thuật như thiết kế kiến trúc, hợp đồng đặc quyền và bán buôn; dịch vụ trung gian như xử lý dữ liệu, truyền thông, quảng cáo, du lịch… Dịch vụ cho khách hàng bao gồm buôn lẻ; dịch vụ chăm sóc y tế, du lịch, giải trí; dịch vụ giáo dục; dịch vụ cá nhân như nhà hàng, tiệm giặt ủi… - Theo lĩnh vực, chức năng. Dịch vụ được chia thành dịch vụ tiếp đón khách như khu vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng; dịch vụ thông tin liên lạc như bưu điện, hàng không, viễn thông; dịch vụ y tế sức khỏe như bệnh viện, phòng khám, nha khoa; dịch vụ bảo trì bảo quản; dịch vụ phục vụ công cộng như xe buýt, xử lý chất thải, cung cấp nước; dịch vụ thương mại như buôn bán lẻ, phân phối, cung ứng; dịch vụ tài chính như ngân hàng, cho vay; dịch vụ chuyên ngành và kỹ thuật; dịch vụ hành chính; dịch vụ khoa học, nghiên cứu, phát triển; dịch vụ tư vấn, giáo dục, đào tạo. - Theo mục đích. Dịch vụ được chia làm 2 loại gồm dịch vụ lợi nhuận và dịch vụ phi lợi nhuận.
- Theo mức độ chuẩn hóa. Dịch vụ được chia làm 2 loại gồm dịch vụ được chuẩn hóa và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Hình thức dịch vụ được chuẩn hóa không đòi hỏi cao về tay nghề nhưng hạn chế tính linh hoạt, sáng tạo của nhân viên. Dịch vụ chuẩn hóa được thiết kế cho số lượng cung cấp lớn và tập trung vào một số khía cạnh phục vụ nhất định.
Dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng là dịch vụ được thiết kế theo từng yêu cầu cụ thể của khách hàng. Một dịch vụ khách hàng tốt thông thường sẽ có một số yếu tố đóng vai trò then chốt như: - Tốc độ giải đáp thắc mắc, khiếu nại của khách hàng luôn phải nhanh chóng. 10 - Sự chuyên nghiệp của nhân viên như phong thái nói chuyện, khả năng xử lý tình huống, sự thấu hiểu tâm lý của khách hàng và sự nắm rõ thông tin sản phẩm. Một số cách để mang lại dịch vụ khách hàng tốt như: - Đem đến cho khách hàng dịch vụ ngoài mong đợi.
- Đặt mình vào vị trí của khách hàng. - Không nên bào chữa rắc rối mà tập trung vào giải pháp trước tiên. - Nói chuyện với khách hàng một cách tự nhiên, cởi mở và thân thiện.4 Các dịch vụ ngân hàng dành cho KHCN 2.1 Dịch vụ huy động vốn Nguồn vốn kinh doanh của NHTM gồm 2 nguồn chủ yếu là vốn tự có và vốn huy động. Trong đó vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế. Vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng đầu tiên đối với một ngân hàng. Dịch vụ huy động vốn bao gồm dịch vụ nhận tiền gửi và dịch vụ huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá.2 Dịch vụ tín dụng Cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu, mang lại phần thu nhập lớn cho ngân hàng.
Hoạt động tín dụng thực hiện tốt thì ngân hàng sẽ vững mạnh và phát triển, ngược lại thì ngân hàng sẽ phá sản. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế với nhiều loại hình kinh tế đa dạng và phức tạp thì dịch vụ tín dụng cũng ngày càng phát triển, phong phú đa dạng về hình thức, thể loại, phương thức. Dịch vụ tín dụng bao gồm 2 nhóm chính là cho vay ngắn, trung và dài hạn.3 Dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán được xem là mảng nghiệp vụ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhưng chưa có sự quan tâm đúng mức. Các phương tiện thanh toán thông dụng bao gồm: séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thương phiếu, lệnh chi… Dịch vụ chi trả lương qua tài khoản cá nhân, thanh toán hóa đơn tiền điện, điện thoại, nước… qua dịch vụ thẻ đang phát triển mạnh và tạo nguồn thu đáng kể cho các NHTM.
Dịch vụ chuyển tiền, nhận tiền kiều hối ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh phát triển. Nhiều NHTM đã liên kết, hợp tác làm đại lý nhận chuyển tiền và chi trả kiều hối cho một số tổ chức tài chính quốc tế như Wester Union, Money Gram… 2.4 Dịch vụ thẻ Thẻ ngân hàng là một sản phẩm tài chính cá nhân đa chức năng do ngân hàng phát hành, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Thẻ có thể sử dụng để rút tiền, gửi tiền, cấp tín dụng, thanh toán hóa đơn dịch vụ hay để chuyển khoản. Thẻ cũng được sử dụng cho nhiều dịch vụ phi tài chính như tra vấn thông tin tài khoản…Thẻ thanh toán hiện nay có rất nhiều loại khác nhau, nhưng nhìn chung có 2 loại cơ bản là thẻ ghi nợ (nội địa và quốc tế) và thẻ tín dụng.
Thẻ ghi nợ sử dụng số dư hiện có trên tài khoản cá nhân. Còn thẻ tín dụng nổi bật với tính năng “chi tiêu trước, trả tiền sau”.5 Dịch vụ ngân hàng điện tử Việc ứng dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử trong hoạt động kinh doanh của các NHTM hiện nay như là một lợi thế cạnh tranh. Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng trong tương lai. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại có thể kể đến như: - Call center: cung cấp thông tin, giải đáp các thắc mắc và khiếu nại của khách hàng 24/7.
- Mobile banking: loại hình dịch vụ ngân hàng giao dịch qua điện thoại di động. Khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản, liệt kê giao dịch, nhận thông báo 12 số dư, thanh toán chuyển tiền trong, ngoài hệ thống ngân hàng, thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, internet… - Internet banking: dịch vụ ngân hàng mà khách hàng giao dịch với ngân hàng thông qua Internet. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng hay truy cập thông tin về tài khoản cá nhân, số dư, tiền gửi, tiền vay… 2.2 Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 2.