CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỂ CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1. Khái niệm về dân số, kế hoạch hóa gia đình và công tác DS - KHHGĐ 1. Dân số Dân số luôn là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học, chuyên gia dân số và cả các chính phủ, tổ chức xã hội. Không chỉ ngày nay mà ngay cả trước kia, các nước đều quan tâm đến vấn đề dân số vì sức ép của sự bùng nổ dân số ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến sức mạnh quốc gia.
Ngày nay, vấn đề dân số không chỉ hạn chế mà nhiều nước còn khuyến khích phát triển. Bởi vì dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu thụ sản phẩm. Quy mô dân số, cơ cấu dân số, tốc độ gia tăng dân số và chất lượng dân số tác động lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Dân số theo nghĩa thông thường: là số lượng dân số trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định trong một khoảng thời gian xác định.
Dân số theo nghĩa rộng: được hiểu là một tập hợp người. Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động. Ngay cả bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già và tử vong.(5) Dân số thường được định nghĩa như sau: là những tập hợp người sống trên một lãnh thổ trong một thời gian xác định, được đặc trưng bởi quy mô, kết cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ. Quy mô dân số: là tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian xác định.
Cơ cấu dân số: là tỉ lệ dân số được phân loại theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác. Đây là những đặc trưng biểu thị chất lượng dân số, có liên quan chặt chẽ với quy mô và tốc độ gia tăng dân số. Phân bố dân số: là sự sắp xếp số dân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của họ và với các yêu cầu nhất định của xã hội. Kế hoạch hoá gia đình Theo định nghĩa của tố chức y tế thế giới (WHO): Kế hoạch hoá gia đình là bao gồm những thực hành giúp cho những cá nhân hay các cặp vợ chồng để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 đạt được những mục tiêu: Tránh những trường hợp sinh không mong muốn; Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn; Điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh; Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ.
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số và nâng cao chất lượng dân số. Vai trò của công tác DS - KHHGĐ đối với sự phát triển của xã hội Dân số vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng của cải của xã hội. Qui mô, cơ cấu của dân số quyết định qui mô, cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng. Con người - dân số đóng vai trò trung tâm trong mọi chương trình, chiến lược phát triển, nó vừa là điều kiện, phương tiện, vừa là mục tiêu của phát triển.
Phát triển kinh tế xã hội dù ở đâu và thời kỳ nào đều nhằm hướng tới việc phục vụ cho mục tiêu phát triển toàn diện con người. Dân số và phát triển thường xuyên biến động và bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố tác động đến dân số và phát triển rất đa dạng, phong phú và không ngừng biến đổi. Vì vậy công tác dân số - KHHGĐ có vai trò hết sức quan trọng, thực hiện điều tiết mức sinh thông qua các hoạt động chương trình KHHGĐ để tạo ra quy mô, cơ cấu dân số ổn định phù hợp với điều kiện điạ lý, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ; Là cở sở quan trọng để nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước.
Đồng thời thực hiện tốt công tác Dân số - KHHGĐ giảm được chi phí do hạn chế được mức sinh, tăng tích luỹ cho xã hội, là nguồn lực đáng kể để đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho dân cư còn là cơ sở thực hiện các chính sách xã hội như thực hiện công bằng xã hội, tăng cường bình đẳng giới, giải quyết các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường… 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, của một số quốc gia và của Đảng, Nhà nước Việt Nam về công tác Dân Số-KHHGĐ 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin Trong các tác phẩm kinh điển về duy vật lịch sử Mác, Ăngghen, Lênin đã đề cập nhiều tới vấn đề dân số, quan điểm của Mác hoàn toàn đối lập với luận điểm của học thuyết MalThus. Ông cho rằng dân số không đơn thuần chỉ là số dân, mà còn bao hàm cả chất lượng dân cư, hàm chứa những nhân tố nội sinh, có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mối quan hệ và chịu tác động đa chiều của các điều kiện tự nhiên và xã hội.
Dân số phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tồn tại trong mọi hình thái kinh tế - xã hội. Dân số và tái sản xuất dân số là một trong những hoạt động cơ bản của con người. Bản chất của quá trình dân số, như (sinh, tử, di dân) trước hết mang tính kinh tế-xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội chỉ phù hợp với một lượng dân cư nhất định và ông cho rằng: “Các điều kiện của một xã hội hay nói cách khác là các hình thái kinh tế-xã hội chỉ có thế phù hợp với một lượng dân số nhất định.
Trong một hình thái kinh tế-xã hội các điều kiện sản xuất, trình độ của lực lượng sản xuất sẽ xác định số lượng tối ưu và tương ứng”.(7) Tán thành với quan điểm của Mác, Ăng Ghen cho rằng: “Theo quan điểm duy vật nhân tố quyết định trong lịch sử, suy cho cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp, nhưng bản thân sự sản xuất có hai loại. Một mặt sản xuất ra tư liệu trong sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo, nhà ở và những dụng cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó. Mặt khác là sản xuất ra chính bản thân con người; là sự truyền giống nòi. Những thiết chế xã hội trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống là do hai loại sản xuất đó quyết định.
Một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” (7). Theo Lênin thì “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động ".(7) Học thuyết Mác – Lênin thể hiện tầm nhìn xa, sâu rộng, tư tưởng vĩ đại của các nhà kinh điển thể hiện quan điểm dân số phát triển có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Sự phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính qúa trình dân số của quốc gia ấy. Các hành vi dân số của mọi cộng đồng dân cư tương hợp với một trình độ phát triển kinh tế - xã hội (cả về kinh tế, văn hoá- xã hội, giáo dục, y tế, tâm lý, phong tục tập quán lối sống .) của chính cộng đồng dân cư ấy.
Học thuyết cũng chỉ ra rằng Con người có đủ khả năng để điều khiển các quá trình dân số theo mong muốn của mình nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đúng như Ăngghen nhận xét, đến một lúc nào đó xã hội phải điều chỉnh mức sinh của con người hay xã hội nào làm được việc điều chỉnh sự sinh sản ra con người như đã điều chỉnh kinh tế thì mới có thể lãnh đạo chủ động xã hội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quan điểm của một số quốc gia về công tác DS-KHHGĐ Trải qua nhiều kỳ hội nghị quốc tế về vấn đề dân số toàn cầu. Quan điểm của các quốc gia tại các hội nghị này được thể hiện rõ như sau: Hội nghị quốc tế Bcucarét có 136 nước tham gia: Quan điểm nổi bật của nhiều nước đang phát triển tại hội nghị này là: Phát triển là việc thực hiện công tác tránh thai tốt nhất, các nước đang phát triển đã nhận thấy những tác động tiêu cực của sự gia tăng dân số nhanh ngay ở tại quốc gia mình.
Đồng thời các quốc gia đang phát triển cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo sự phân phối công bằng hơn các nguồn lực kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới. Hội nghị quốc tế Mêhicô CiTy năm 1984, có 146 nước tham gia. Hội nghị tiến hành trong giai đoạn khi các chương trình KHHGĐ đã đạt được những thành tựu khá quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình giảm sinh và thực hiện quy mô gia đình ít con trên thế giới. Vấn đề trọng tâm tại hội nghị này là tìm kiếm các mô hình thích hợp cho các nỗ lực phát triển kinh tế và KHHGĐ, nhằm đạt đến các mục tiêu dân số của các quốc gia.
Hội nghị quốc tế Cai rô năm 1994, có 180 nước tham gia. Hội nghị đề ra chương trình hành động cho 20 năm, vấn đề trọng tâm của chương trình hành động là đề ra chiến lược mới; Trong đó nhấn mạnh đến mối liên hệ tổng thể giữa dân số và phát triển; Đặt ra các mục tiêu đáp ứng các nhu cầu cá nhân của cả phụ nữ và nam giới, chứ không giới hạn bởi các mục tiêu nhân khẩu học thuần tuý, như giảm mức sinh hay thúc đẩy quy mô gia đình ít con. Nguyên tắc của chương trình hành động khẳng định con người là trung tâm của những mối quan tâm đối với phát triển bền vững; Vì con người là nguồn lực quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc. Quyền phát triển phải được thực hiện để đáp ứng được các mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia ngay hiện tại và trong tương lai.