Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Lý luận về công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Quận 1. Công chức và phân loại công chức Khái niệm công chức Khái niệm công chức trên thế giới xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ công chức ở các nước tư bản phương Tây từ nửa cuối thế kỷ XIX, đánh dấu bước phát triển quan trọng của lịch sử các tổ chức nhà nước. Tuy vậy, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về công chức.
Ở Cộng hoà Pháp: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương, nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý. Ở Vương quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những nhân viên làm việc trong ngành hành chính, ví dụ như nội chính và ngoại giao. Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức. Các nghị sĩ Quốc hội (thượng nghĩ sĩ, hạ nghị sĩ) và những người làm việc trong Quốc hội đều không phải là công chức.
Như vậy, không có một khái niệm thống nhất về công chức, nhưng có điểm chung, công chức là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh, thừa hành một công vụ trong cơ quan nhà nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Ở Việt Nam, khái niệm công chức xuất hiện lần đầu tiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL, ngày 20-5-1950 về Quy chế công chức. Điều 1 của Sắc lệnh này quy định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ 11 quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Công chức theo Quy chế này giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chỉ có trong các cơ quan của Chính phủ.
Tuy nhiên, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Quy chế này không được phổ biến, khái niệm công chức rất ít sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ “cán bộ, công nhân, viên chức”, không có sự phân biệt cụ thể ai là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức. Theo Khoản 2 Điều 4 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và viên chức” (2019), Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [26]. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện và khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội. Như vậy được hiểu là công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội 12 nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Phân loại công chức Công chức được phân loại theo 2 cách theo quy định tại Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được phân loại theo 02 căn cứ: - Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành: Loại A: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp; Loại B: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính; Loại C: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên; Loại D: Người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự và ngạch nhân viên. - Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 34 Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2019, “căn cứ vào ngạch công chức” đã được đổi thành “căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ” [26]. Đồng thời, khoản 7 Điều 1 Luật năm 2019 đã thêm “ngạch khác” vào danh sách các ngạch công chức nên ngoài căn cứ vào 04 ngạch nêu trên, công chức còn được phân loại theo ngạch khác [26]. Do đó, căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng với các ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên và ngạch khác. Chính phủ hiện chưa có văn bản nào quy định chi tiết về “ngạch khác” vừa được bổ sung này mà mới chỉ lên kế hoạch xây dựng các Nghị định hướng dẫn Luật sửa đổi tại Quyết định 69/QĐ-BNV.
Như vậy, hiện nay, công chức vẫn được phân loại theo 02 hình thức. Từ 01/7/2020 dù có sửa đổi căn cứ phân loại theo ngạch nhưng vẫn giữ nguyên 02 hình thức để phân loại công chức. Khái niệm, đặc điểm công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Khái niệm công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân quận Cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận: Nghị định 37/2014/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 05/05/2014 quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân Dân là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lí nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lí của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lí về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp trên (cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu sự chỉ đạo của bộ, cơ quan ngang bộ quản lí ngành hay lĩnh vực công tác tương ứng). Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan quản lí nhà nước cấp trên và khi cần thiết thì báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp mình. Tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân do Chính phủ quy định. Có thể hiểu, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân quận và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương.
14 Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp trên. CBCC của UBND quận được chính quyền quận bầu cử, tuyển dụng, phân công bố trí vào các vị trí chức vụ, chức danh có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công việc đặt ra nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Việc bầu cử, tuyển dụng CBCC vào làm việc tại UBND quận phải tuân theo quy định về bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh của Luật Cán bộ, công chức hiện hành. CCBC làm việc trong UBND quận là những người thực thi công vụ nhà nước, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, giữ vững trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, cung cấp các dịch vụ công có chất lượng cho người dân, tổ chức.
CBCC của UBND quận được sử dụng quyền lực của nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ vì lợi ích chung của cộng đồng, được hưởng lương và các chế độ khác từ ngân sách nhà nước. Đặc điểm công chức tại các CQCM thuộc UBND quận: Thứ nhất, CBCC của UBND quận là những người làm việc trong cơ quan HCNN và phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước: Luật Dân sự, Luật Cán bộ, Công chức. Trong đó, CBCC của UBND quận không những là người chấp hành luật và các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên mà còn là người thực thi và bảo vệ pháp luật.