phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận đƣợc kết cấu với 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại 5 Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần đầu tƣ và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần đầu tƣ và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa 6 2 CHƢƠNG 1 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng và cho vay khách hàng cá nhân Khái niệm tín dụng ngân hàng Ngân hàng đƣợc bắt nguồn từ công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quí cho những ngƣời sở hữu tránh gặp phải mất mát, và ngƣời sở hữu phải trả cho ngƣời giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển kèm theo thƣơng mại phát triển, nhu cầu về tiền càng lớn thì Ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những ngƣời có tiền và cung cấp tiền cho những ngƣời cần tiền.
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính, trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính số tiền đó cho các cá nhân và các tổ chức vay lại. Căn cứ vào chức năng, Ngân hàng đƣợc chia làm hai loại : Ngân hàng Nhà nƣớc và Ngân hàng thƣơng mại. Do sự khác nhau về điều kiện kinh tế và sự phát triển của hệ thống tài chính của mỗi nƣớc mà Ngân hàng có những định nghĩa khác nhau. Theo Luật các tổ chức tín dụng của Quốc hội của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1997: “ Ngân hàng thƣơng mại là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm Ngân hàng thƣơng mại, Ngân hàng đầu tƣ, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác” Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế, các cá nhân ngân hàng vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. Với tƣ cách là ngƣời đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu để huy động vốn. Ngƣợc lại với tƣ cách là ngƣời cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế, các cá nhân bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, bảng kê rút vốn, 7 chiết khấu chứng từ có giá, bảo lãnh… Thông qua hoạt động này, ngân hàng có thể cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế đồng thời tối đa hoá hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình. Tín dụng nói chung đƣợc định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣơng giá trị (dƣới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, “Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đên hạn thanh toán”. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH125, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”. Theo thông tƣ 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đồi với khách hàng, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Bản chất của tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một lƣợng tài sản bằng tiền, bằng tài sản hay uy tín với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ dƣới các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác.
Nhƣ vậy, từ khái niệm trên có thể rút ra đƣợc bản chất của tín dụng ngân hàng: - Tín dụng phải dựa trên cơ sở sự tin tƣởng giữa bên cho vay và bên đi vay. Chỉ khi nào ngƣời cho vay thực sự tin tƣởng vào sự sẵn lòng và khả năng trả nợ của ngƣời đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới đƣợc thiết lập. Đây chính là điều kiện 8 tiên quyết hình thành quan hệ tín dung. Mặt khác, ngƣời vay cũng tin vào hiệu quá của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình.
- Tin dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng tài sản của ngân hàng cho ngƣời đi vay, trong một thời gian nhát định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi. - Sau một thời gian nhƣ đã thảo thuận, ngƣời đi vay phải hoàn trả cho ngƣời cho vay một lƣợng giá trị bảo gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá của việc sử dụng quyền sử dụng vốn của ngƣời khác. Do vậy, nó phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho ngƣời chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn.
- Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là do sự mất cân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan nhƣ: sự biến động của thị trƣờng, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bất kahr kháng nhƣ thiên tai, địch họa. Cho vay khách hàng cá nhân Đối tƣợng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể.
Mục đích vay bao gồm vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh: + Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay đƣợc cấp cho cá nhân, hộ gia đình bởi ngân hàng hoặc các công ty tài chính để thỏa mãn nhu cầu chui tiêu của khách hàng. Tùy vào từng đối tƣợng khách hàng, mục đích vay, mức cho vay hay thời hạn cho vay. mà tổ chức tín dụng có thể cho vay tiêu dùng có hoặc không có tài sản bảo đảm. Hiện nay, cho vay tiêu dùng thƣờng đƣợc khách hàng cá nhân, hộ gia đình sử dụng để tài trợ cho các chi phí nhƣ mua nhà, mua xe, giáo dục, y tế, du lịch.
+ Vay sản xuất kinh doanh: là hình thức tài trợ cho mục đích bổ sung vốn lƣu động, thanh toán tiền mua máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển, xây dựng, mở rộng nhà xƣởng,… CVKHCN đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhƣng là một khái niệm chƣa đƣợc phát triển rộng rãi ở thị trƣờng Việt Nam. Hiện nay xu hƣớng tiêu dùng tăng cao để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các 9 thành phố lớn. Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng cá nhân của ngân hàng đƣợc khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này.
Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Việc phân loại các hình thức cho vay nhằm mục đích quản lí các khoản vay mang lại hiệu quả nhất. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lí của Ngân hàng, hoạt động cho vay trong NHTM đƣợc phân loại theo những cách khác nhau. Căn cứ vào thời hạn cho vay: Phân chia các khoản cho vay theo thời hạn giúp cho Ngân hàng đảm bảo hơn về tính an toàn và sinh lời của hoạt động cho vay,cũng nhƣ khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo căn cứ này, cho vay đƣợc chia làm ba loại: - Cho vay ngắn hạn: các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 12 tháng.
Loại tín dụng này thƣờng đƣợc sử dụng cho vay bổ sung vốn lƣu động thiếu hụt tạm thời của doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình. - Cho vay trung hạn: các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (tùy theo quy định của từng quốc gia, có nƣớc quy định 36 tháng hoặc 84 tháng). Hình thức cho vay này chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: các khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
Hình thức cho vay này thƣờng sử dụng vốn vay vào mục đích chủ yếu đầu tƣ hình thành mới tài sản cố định và thời hạn thu hồi vốn dài. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng: Theo căn cứ này, cho vay đƣợc chia làm 2 loại: cho vay không có bảo đảm và cho vay có bảo đảm. - Cho vay có tài sản bảo đảm: Là hình thức cho vay trong đó có sử dụng các hình thức bảo đảm tiền vay. Ngân hàng có thể sử dụng các hình thức nhƣ cầm cố, 10 thế chấp, bảo đảm bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Đây là hình thức cho vay phổ biến áp dụng với phần lớn khách hàng, trừ những khách hàng có uy tín cao đối với Ngân hàng. - Cho vay không đảm bảo: Là hình thức cho vay trong đó không có các hình thức đảm bảo tiền vay (không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba ), mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.