Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lƣợng cho vay và kinh nghiệm nâng cao chất lƣợng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng chất lƣợng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại Cổ phần Sài Còn Công Thƣơng. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại Cổ phần Sài Còn Công Thƣơng.” 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.“Một số vấn đề về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Quan niệm và đặc điểm cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1.
Quan niệm về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại. “Cho vay là hoạt động kinh doanh quan trọng đem lại khoản thu nhập lớn cho ngân hàng.TS Mai Văn Bạn (Trong giáo trinh nghiệp vụ NHTM, năm 2008) thì cho vay đƣợc hiểu là “việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (năm 2010) đã định nghĩa cho vay nhƣ sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ những khái niệm trên có thể hiểu cho vay của NHTM là giao dịch về vốn (vốn ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả tiền và tài sản) giữa NHTM và các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Trong đó, bên đi vay được quyền sử dụng vốn của NHTM trong một thời gian nhất định theo các nguyên tắc và điều kiện thỏa thuận trước giữa hai bên; bên đi vay có trách nhiệm sử dụng vốn theo mục đích đã xác định trước, và phải hoàn trả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho NHTM.” “NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣ các cá nhân, doanh nghiệp. Hiện nay, trong các đối tƣợng khách hàng của NHTM thì DNNVV là đối tƣợng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất. Ƣu điểm của DNNVV 9 không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lƣợng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cƣ. Trong đó, các DNNVV vay vốn là để đáp ứng nhu cầu SXKD, tạo ra của cải, sản phẩm cho nền kinh tế, thông qua đó làm giàu cho chính doanh nghiệp và nền kinh tế.
Vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Cho vay DNNVV của NHTM là việc NHTM giao hoặc cam kết giao một khoản tiền cho DN VVN để sử dụng vào mục đích đầu tư, phát triển SXKD của doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết”. Nhìn chung, cách thức cho vay DNNVV cũng tƣơng tự nhƣ với các khách hàng doanh nghiệp khác, tùy thuộc vào thời hạn và số tiền doanh nghiệp xin vay để đƣa ra hình thức và quy trình cho vay hợp lí.“Đặc điểm của cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại - “Nhu cầu vay vốn đa dạng: Vì DNNVV là tổ chức kinh tế, mọi hoạt động đều hƣớng vào SXKD, tạo ra sản phẩm cung ứng trên thị trƣờng nhằm mục tiêu kiếm lời, vì vậy hoạt động cho vay DNNVV đáp ứng cho nhu cầu vốn thiếu hụt đó để bổ sung vốn lƣu động, mở rộng sản xuất, đầu tƣ đổi mới dây chuyền, công nghệ. - Thời hạn cho vay đa dạng: Do nhu cầu vay vốn của DNNVV khá phong phú, từ các khoản vay bổ sung vốn lƣu động thiếu hụt trong SXKD mà doanh nghiệp có thể sử dụng doanh thu bán hàng trong vòng một năm để hoàn trả đầy đủ cho ngân hàng, cho đến các khoản vay có quy mô tƣơng đối lớn nhƣ vay vốn để mua sắm TSCĐ, mở rộng sản xuất. Để trả nợ đầy đủ cho ngân hàng thì hiệu quả kinh tế trong vòng một năm là không thể đủ, vì vậy thời gian cho vay phải kéo dài trên một năm.
- Quy mô khoản vay thuờng nhỏ: Thƣờng không quá lớn, phụ thuộc vào chu kì SXKD của doanh nghiệp, quy mô dự án hay các hợp đồng kinh tế đƣợc kí kết. Quy mô khoản vay đối với DNNVV khá thấp, nếu tính bình quân trên một DNNVV, chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn lƣu động thiếu hụt và mua sắm dây chuyền, thiết bị có giá trị không quá cao.” - “Nguồn trả nợ từ hiệu quả sử dụng vốn: Vì DNNVV vay vốn để phục vụ SXKD tạo ra nguồn thu, vì vậy, ngân hàng yêu cầu DNNVV vay vốn 10 phải trả nợ từ chính các nguồn thu nhập từ hiệu quả sử dụng vốn này. Đối với ngắn hạn, DNNVV trả nợ bằng doanh thu bán hàng. Đối với trung và dài hạn, nguồn trả nợ là từ lợi nhuận sau thuế của dự án.
Tuy nhiên, DNNVV dễ gặp khó khăn trong việc trả nợ vay khi có sự biến động trên thị trƣờng tài chính - tiền tệ nhƣ: Lạm phát, khủng hoảng kinh tế, tài chính. - Số lƣợng khách hàng lớn: Do số lƣợng DNNVV lớn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các loại hình doanh nghiệp dẫn đến nhu cầu vay vốn để phục vụ cho SXKD là rất lớn. - Thƣờng áp dụng hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Do năng lực tài chính của DNNVV còn hạn chế, hiệu quả SXKD chƣa cao, năng lực quản lý còn thấp. nên chƣa tạo ra đƣợc lòng tin với ngân hàng.
Vì vậy, các DNNVV thƣờng phải có TSĐB khi vay vốn các NHTM và tài sản đảm bảo phải có giá trị lớn hơn khoản vay.“Phân loại, nguyên tắc và điều kiện cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 1. Phân loại cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại Thứ nhất, phân theo mục đích vay vốn - “Cho vay mua bán bất động sản: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn phục vụ cho hoạt động mua bán bất động sản nhƣ mua sắm, và xây dựng nhà ở, đất đai, trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. - Cho vay phục vụ SXKD công nghiệp và thƣơng mại: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. - Cho vay hỗ trợ xuất nhập khẩu: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Cho vay dự án: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn tài trợ cho các dự án mới dựa trên những khoản thu nhập đƣợc dự tính trong tƣơng lai. Các dự án này đòi 11 hỏi nguồn vốn lớn trong khoảng thời gian dài, đồng thời chƣa thể thu đƣợc lãi trong thời gian xây dựng của dự án.” - Các khoản cho vay khác: là các khoản vay chƣa đƣợc xếp vào các loại trên. Thứ hai, phân theo thời hạn cho vay - “Cho vay ngắn hạn: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn có thời hạn tối đa 12 tháng, nhằm bù đắp sự thiếu hụt của vốn lƣu động của các doanh nghiệp. - Cho vay trung hạn: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm, đƣợc sử dụng chủ yếu để đầu tƣ mua sắm TSCĐ, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Ngoài ra, đây còn là nguồn hình thành vốn lƣu động thƣờng xuyên cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập. -“Cho vay dài hạn: Là việc NHTM cho DNNVV vay vốn có thời hạn lớn hơn 5 năm, đƣợc sử dụng chủ yếu đề đáp ứng các nhu cầu dài hạn nhƣ mua sắm dây chuyền sản xuất, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô vốn lớn; xây dựng xí nghiệp, nhà xƣởng mới; xây dựng các công trình dân dụng, các dự án đâu tƣ xây dựng cơ bản khác.” “Thứ ba, phân theo phương thức cho vay - “Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là hình thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho doanh nghiệp hạn mức cho vay, có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, theo số dƣ tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức này đƣợc cấp trên cơ sở kế hoạch SXKD, giá trị tài sản thế chấp, tài sản cầm cố bảo lãnh (nếu có), nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phƣơng án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và yêu cầu vay vốn, lƣợng vay vốn.
Trong thời gian ngân hàng cam kết cho vay, doanh nghiệp có thể thực hiện vay - trả nhiều lần, nhƣng dƣ nợ không đƣợc vƣợt quá hạn mức cho vay. Phƣơng thức này áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn bổ sung vốn lƣu động thƣờng xuyên, có năng lực tài chính tốt, SXKD ổn định, có lãi, đã tạo đƣợc uy tín với ngân hàng và không có nợ cần chú ý tại các tổ chức cho vay.” 12 - “Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay đối với các doanh nghiệp không có nhu cầu vay thƣờng xuyên, chỉ có nhu cầu thời vụ, hay sản xuất đặc biệt mới tìm đến vay ngân hàng, vốn vay này chỉ tham gia vào một số chu kỳ nhất định của chu kỳ SXKD. Mỗi lần vay vốn doanh nghiệp phải lập Hồ sơ vay vốn theo quy định. Việc thẩm định, xét duyệt cho vay, quản lý giám sát tình hình sử dụng vốn vay và thu hồi nợ đƣợc thực hiện theo từng hợp đồng cho vay.
Doanh nghiệp có thể rút vốn một lần hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn nhƣng không vƣợt quá số tiền cho vay ghi trong hợp đồng cho vay. Nếu doanh nghiệp rút vốn nhiều lần, mỗi lần rút vốn doanh nghiệp phải kí giấy nhận nợ và gửi cho ngân hàng bản sao chứng từ tài liệu chứng minh cho mục đích sử dụng vốn vay. Phƣơng thức cho vay này thƣờng xuyên yêu cầu các DNNVV phải có TSĐB, áp dụng với các doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng vốn thƣờng xuyên hoặc chƣa có nhiều uy tín với ngân hàng.