Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DNNVV CỦA NHTM 1. Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay đối với DNNVV của NHTM 1. Khái niệm và đặc điểm của DNNVV Phát triển DNNVV ở Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng thị trường và tăng mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp trong nước, các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới nhằm học hỏi, giao lưu liên kết để đa dạng hoá sản phẩm cũng như chiến lược kinh doanh; tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên thế giới; tăng cường kinh doanh tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động góp phần to lớn và quyết định đến sự phát triển của đất nước.
Khái niệm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV mang đặc điểm chung của một doanh nghiệp, đó là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (theo định nghĩa Doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/2005). Ngoài ra, DNNVV còn có những nét đặc thù riêng đó là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, việc xác định DNNVV tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1. Tiêu chí của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động động nguồn vốn động nguồn vốn Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến 200 người đến nghiệp và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên II.
Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến 200 người đến xây dựng trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng người đến đồng đến 50 người đến dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Trích từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ) Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp. Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì đến nay có gần 500.000 DNNVV, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế.
Các DNNVV tạo ra 45 đến 50% khối lượng hàng tiêu dùng và hàng xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khẩu, đóng góp 20% cho ngân sách nhà nước, thu hút 56% số lao động trong các doanh nghiệp. Đây là một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo; bởi với tính linh hoạt, các DNNVV có thể đi xâu vào các vùng, miền để tồn tại và phát triển. Trong một tương lai gần, DNNVV chứ không phải doanh nghiệp lớn sẽ là nòng cốt của nền kinh tế (Nguồn: Báo cáo của Hiệp hội DNNVV Việt Nam tính đến hết năm 2012). Các DNNVV tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường với những đặc điểm sau: DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh Với qui mô sản xuất nhỏ nên nhu cầu vốn đầu tư thấp (dưới 10 tỷ đồng), chu kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn nên khả năng thu hồi vốn rất nhanh góp phần làm tăng tốc độ vòng quay của vốn, giảm các khoản chi phí vốn mang lại hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
DNNVV tồn tại ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại và phát triển bao gồm nhiều thành phần với nhiều loại hình doanh nghiệp, từ các doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư nhân tới các hợp tác xã. DNNVV được lựa chọn các ngành nghề kinh doanh trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng. phù hợp qui định của Nhà nước. Các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng được kinh doanh bình đẳng trước pháp luật trong các lĩnh vực của nền kinh tế trên mọi miền đất nước.
DNNVV có tính linh hoạt và thích ứng cao Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển bền vững thì các doanh nghiệp phải nắm bắt kịp thời các nhu cầu của thị trường. Xuất phát từ đặc điểm có qui mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ban đầu không lớn, cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, doanh nghiệp dễ dàng điều chỉnh chuyển hướng sản xuất kinh doanh vào những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực đó có lợi hơn. Mặt khác, cơ cấu gọn nhẹ cũng giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc quản lý, giám sát, tiết kiệm chi phí quản lý, hạn chế sự sai lệch thông tin. Hơn nữa, các DNNVV không gặp nhiều khó khăn như doanh nghiệp lớn trong việc chuyển đổi địa điểm sản xuất kinh doanh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Bởi vì các DNNVV thường sử dụng chính những diện tích đất của mình để làm mặt bằng sản xuất. Ngoài ra, DNNVV có thể nắm bắt được cả những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương. Điều này giúp cho DNNVV khai thác hết năng lực của mình, đạt tới hiệu quả kinh doanh cao nhất. Năng lực tài chính thấp Nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các DNNVV đó là khả năng tài chính.
Việc tiến hành sản xuất kinh doanh của DNNVV chủ yếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của một hoặc một số cá nhân. Nguồn vốn này không đủ để doanh nghiệp có thể đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặt khác, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế. Nguyên nhân là do ngoài sự yếu kém về quản lý kinh tế thì tài sản thế chấp không đủ điều kiện, báo cáo tài chính, sổ sách kế toán của doanh nghiệp không rõ ràng, minh bạch.
Năng lực quản lý, điều hành của chủ DNNVV thấp Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chủ doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp do có sẵn mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị trường. Nhiều chủ doanh nghiệp còn có thói quen điều hành quản trị theo kiểu gia đình. Việc tách bạch giữa các bộ phận trong doanh nghiệp chưa rõ ràng.
Nhiều chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo qua một khóa quản lý chính quy nào, thậm chí không qua đào tạo nên thiếu hiểu biết về pháp luật, kinh tế. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế Do quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu nên chất lượng sản phẩm không cao, năng suất lao động thấp. Thêm vào đó, trình độ tay nghề cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới của người lao động còn hạn chế. DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ tay nghề cao do không có khả năng trả lương cao và những chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin của doanh nghiệp vẫn còn yếu kém và chưa kịp thời. Tất cả những điều này làm giảm tính cạnh tranh của DNNVV, tạo ra rào cản làm sản phẩm của doanh nghiệp khó tiếp cận với thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Như vậy, việc nắm rõ những đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế thị trường sẽ giúp các định chế tài chính, ngân hàng khai thác được khoảng trống thị trường, từ đó có thể mở rộng thị trường, hoàn thiện cũng như phát triển sản phẩm, dịch vụ của mình. Chất lượng cho vay DNNVV của các NHTM 1.
Khái niệm về cho vay Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001-QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và hướng dẫn thực hiện số 49/QĐ_HĐQT ngày 31/05/2002 của NHCT Việt Nam, quyết định số 106/QĐ-HĐQT-NHCT ngày 20/08/2002 về việc cho vay đối với khách hàng trong hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam, phân tích đánh giá doanh nghiệp dưới giác độ tài chính - ngân hàng. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả ngốc và lãi. Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình. Như vậy, Hoạt động cho vay của TCTD theo quy định của pháp luật gồm những yếu tố cấu thành sau: Thứ nhất, về chủ thể: hoạt động cho vay bao giờ cũng gồm hai bên tham gia là bên đi vay và bên cho vay.