Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cho vay bán lẻ tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng cho vay bán lẻ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội. Chương 3: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao chất lượng cho vay bán lẻ tại Ngân hàng Thương Mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hà Nội. Do trình độ, thời gian nghiên cứu còn hạn chế và bị ảnh hưởng bời dịch 14 bệnh Covid-19 nên luận văn khó tránh khỏi những hạn chế và sai sót.
Tác giả luận văn rất mong nhận được sự góp ý của thầy giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn. Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn! 15 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề lý luận về chất lượng cho vay bán lẻ 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm cho vay Cho vay là một hoạt động tín dụng bao gồm 3 giai đoạn là: (1) Giai đoạn cấp tín dụng hay còn gọi là cho vay, (2) Giai đoạn ưu đãi hay còn gọi là giai đoạn mà người đi vay được toàn quyền sử dụng vốn vay; (3) Giai đoạn hoàn trả hay còn gọi là giai đoạn mà người đi vay hoàn lại cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
Bên cạnh nhiều nghiệp vụ ngân hàng thì hoạt động cho vay là một trong ba nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại là (1) Nhận tiền gửi; (2) Cho vay hay còn gọi là cấp tín dụng; (3) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: (1) Nhận tiền gửi; (2) Cấp tín dụng; (3) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Nếu hiểu theo cách hiểu thông thường trong lĩnh vực ngân hàng thì cho vay chính là quá trình mà một chủ thể này (người cho vay) chuyển nhượng một số tiền hay một tài sản cho người khác (người đi vay) để người đó có thể sử dụng số tiền hay tài sản đó trong một khoảng thời gian nhất định rồi sẽ hoàn trả lại người cho vay. Hiểu theo cách sống hằng ngày thì cái cho vay ở đây có thể bằng tiến hoặc bằng hiện vật.
Trong Khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định rõ “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong 16 một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khái niệm này được tái khẳng đinh trong Điều 2, Khoản 1, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Cũng theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN thì tổ chức tín dụng cho vay là tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm: (1) Ngân hàng thương mại; (2) Ngân hàng hợp tác xã; (3) Tổ chức tín dụng phi ngân hàng; (4) Tổ chức tài chính vi mô; (5) Quỹ tín dụng nhân dân; (6) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Như vậy có thể thấy, ngân hàng thương mại là một trong những chủ thể có thể thực hiện hoạt động cho vay. Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng là các pháp nhân, các cá nhân, bao gồm: (1) Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; (2) Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài.
Vậy có thể hiểu “Cho vay ở các ngân hàng thương mại là hình thức mà ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng, một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khái niệm cho vay bán lẻ 17 Khái niệm về cho vay bán lẻ được hiểu một cách rất đa dạng. Cho vay bán lẻ ở đây có thể hiểu là một hình thức tín dụng đối với các cá nhân đi vay để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó như: Mua nhà nhà ở, mua phương tiện đi lại, mua tiện nghi sinh hoạt, học tập, đi du lịch, trả phí dịch vụ y tế. Thuy nhiên, hiểu theo cách rộng hơn khác thì cho vay bán lẻ là một hình thức tín dụng bán lẻ.
Tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp tín dụng của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tín dụng bán lẻ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, các khách hàng và cả nền kinh tế (Anh Thư, 2020). Ở đây thì khai niệm cho vay bán lẻ sẽ được hiểu là cho vay không chỉ đối với các cá nhân và hộ gia đình mà còn có cả đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, thì cho vay được chia thành 02 nhóm: (1) Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó như: Mua nhà nhà ở, mua phương tiện đi lại, mua tiện nghi sinh hoạt, học tập, đi du lịch, trả phí dịch vụ y tế.
(2) Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác (sau đây gọi là hoạt động kinh doanh) là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Nếu hiểu theo thông tư này thì có thể hiểu một cách hàm ý rằng cho vay bán lẻ là cho vay phục vụ nhu cầu đời sống với khách hàng là cá nhân để thanh 18 toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Tóm lại, cho vay bán lẻ tại các ngân hàng thương mại nên được hiểu theo nghĩa rộng “Cho vay bán lẻ là các hoạt động cho các khách hàng của ngân hàng vay tiền mà trong đó các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Hiểu theo cách này thì cho vay bán lẻ sẽ được hiểu một cách khá rộng, sẽ bao gồm không chỉ hoạt động của cá nhân, hộ gia đình mà còn của cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất khác nhau nên có thể nói cho vay bán lẻ là hoạt động cho vay trong phạm vi rất rộng.1 Đặc điểm và lợi ích cho vay bán lẻ a) Đặc điểm của cho vay bán lẻ Cho vay bán lẻ (CVBL) có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung về đối tượng sử dụng vốn, về mục đích vay, lãi suất khoản vay và nguồn trả nợ. Cho vay bán lẻ có một số đặc điển chính sau: - Thứ nhất, trường hợp khách hàng vay là cá nhân hoặc gia đình thì: (1) Đối với cá nhân có thể vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó, và chịu trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng; (2) Trường hợp gia đình có nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống, thì sẽ phải có một cá nhân đại diện gia đình đứng ra vay vốn ngân hàng, các thành viên còn lại trong gia đình (trên 18 tuổi) phải cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ. Nội dung này được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, Thông tư 39 (khoản 3 Điều 2) quy định khách hàng vay vốn tại TCTD là pháp nhân, cá nhân. - Thứ hai, đối với CVBL để tiêu dùng cá nhân thì việc đi vay phải nhằm mục đích vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, gia đình của các cá nhân đó, không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh.
Vì thế, khoản vay phụ thuộc 19 vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Nhu cầu vay tiêu dùng khá đa dạng và thiết yếu đối với mọi gia đình, mọi cá nhân trong xã hội. Với mỗi khách hàng lại có một nhu cầu khác nhau nên đáp ứng yêu cầu của họ là rất đa dạng. Khách hàng xin vay vốn phải tự xem xét trước về khả năng trả nợ của mình, vốn tự có là bao nhiêu và khả năng trả được bao nhiêu tiền một tháng dựa trên thu nhập của bản thân để chnj sản phẩm cho phù hợp.
- Thứ ba, các khách hàng vay tiêu dùng (VTD) thường ít quan tâm đến lãi suất mà thường quan tâm đến số tiền họ phải thanh toán. Những khách hàng VTD tìm đến ngân hàng, họ sẽ đưa ra những thông tin như: mục đích vay vốn là gì, tổng nhu cầu vốn là bao nhiêu, vốn tự có tham gia vào phương án, thu nhập tích lũy của họ sau khi đã trừ đi các chi phí sinh hoạt, tài sản đảm bảo. Ngân hàng sẽ dựa trên những thông tin đó để tính toán cho khách hàng sẽ vay được bao nhiêu và trong khoảng thời gian là bao lâu để đảm bảo mỗi tháng khách hàng chi trả được số tiền gốc và lãi ổn định. Với hình thức VTD này, khách hàng quan tâm nhiều hơn đến số tiền họ phải thanh toán vì đó là số tiền mà họ dự kiến có thể chi trả được hàng tháng, hơn nữa với hình thức trả gốc và lãi, thì theo thời gian dư nợ giảm dần, tiền lãi trên dư nợ còn lại cũng sẽ giảm, do vậy theo thời gian, số tiền mà khách hàng phải trả hàng tháng sẽ giảm dần.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân mà khách hàng ít quan tâm đến lãi suất hơn. - Thứ tư, trong lĩnh vực CVBL thì CVTD và cho vay đối với các hoạt động của các DN nhỏ và vừa thường có quy mô không lớn (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất CVTD thường cao.