CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TRONG TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI 1. Tổng quan lý luận về chất lượng bồi dưỡng công chức 1. Khái niệm chất lượng Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về chất lượng bởi chất lượng là một phạm trù rất phức tạp và có nhiều thước đo khác nhau nên dẫn đến có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc” [27].
Đây là cách một cách định nghĩa đề cao giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Xét về phương diện kinh tế có thể nói chất lượng là sự sự thoả mãn với yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng. Trong qua trình cung cấp dịch vụ hay sản phẩm, mà sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng. Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn.
Theo một cách hiểu khác thì: “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật” [28]. Khái niệm bồi dưỡng Hiện nay, khái niệm bồi dưỡng được đề cập rất nhiều trong nghiên cứu khoa học và trong công tác quản lý.
Có một số ý kiến cho rằng khái niệm bồi dưỡng thường gắn liền với đào tạo. Nhưng thực chất, đào tạo và bồi dưỡng là hai hoạt động có nhiều điểm khác biệt. 8 Theo Từ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb.
Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010), Bồi dưỡng – đó là làm cho – 1) tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và – 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [15]. Đào tạo được hiểu là một quá trình xây dựng và trang bị những kiến thức nền tảng cho người học trong một thời gian dài. Trong khi đó, bồi dưỡng được xem là hoạt động bổ sung kiến thức mới trong về ngành, lĩnh vực cho người học trong một thời gian ngắn. Như vậy, bồi dưỡng thường diễn ra sau đào tạo, nghĩa là người học đã kiến thức nền tảng thì bồi dưỡng mới được thực hiện.
Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm được dùng phổ biến trong nền hành chính nhà nước của các quốc gia trên thế giới nhưng do đặc thù về tính chất lịch sử, thể chế chính trị mà khái niệm công chức của mỗi quốc gia không có sự đồng nhất. Ở Việt Nam, khái niệm công chức chức xuất hiện lần đầu tiên trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định".[10] Theo tiến trình lịch sử của nền hành chính nhà nước khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Đặc biệt, đến năm 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức, viên chức đã được ban hành đã quy định rõ những đối tượng nào là cán bộ, những đối tượng nào là công chức.
Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng trong nền công vụ. Căn cứ Khoản 2, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ 9 sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức, xác định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm chất lượng bồi dưỡng công chức Từ các khái niệm chất lượng, khái niệm bồi dưỡng, qua đó khi xem xét đến chất bồi dưỡng là một khái niệm “động” với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chất lượng bồi dưỡng có thể được đánh giá từ mức độ đáp ứng mục tiêu, mức độ phù hợp nhu cầu, yêu cầu, mong đợi của các nhóm đối tượng liên quan.
Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng , vì thế khái niệm chất lượng bồi dưỡng công chức càng có tính động và đa chiều hơn. Khi nhắc đến khái niệm chất lượng bồi dưỡng được hiệu là: là sự đáp ứng hay thỏa mãn nhu cầu của người học, mục tiêu của đào tạo, bồi dưỡng là đáp ứng nhu cầu, đảm bảo sự hài lòng của người học, của các tổ chức hoặc xã hội.Vì vậy thông qua mức độ hài lòng được thể hiện thông qua các tiêu chí được điều tra khảo sát có thể đo được chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Có thể nói, “chất lượng bồi dưỡng” có thể hiểu là kết quả của “dịch vụ” bồi dưỡng do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thực hiện thỏa mãn “nhu cầu” của người sử dụng. Vì thế, khi nhắc đến chất lượng bồi dưỡng công chức còn được hiểu là những giá trị thể hiện sự đáp ứng nhu cầu, mục tiêu của các chủ thể liên quan, 10 trong đó có công chức, cơ quan sử dụng công chức với tư cách là đối tượng thụ hưởng toàn bộ chu trình bồi dưỡng.
Tiếp cận dưới góc độ pháp lý thì chất lượng bồi dưỡng công chức được định nghĩa như sau: Căn cứ khoản 1 điều Thông tư số số 03/2023/TT-BNV ngày 30/4/2023 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 89/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP như sau: “Chất lượng bồi dưỡng: Là sự hài lòng của các bên liên quan và sự đáp ứng mục tiêu bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức”[4]. Như vậy khái niệm chất lượng bồi dưỡng công chức không chỉ thể hiện ở kết quả học tập mà còn phải tính đến năng lực thực thi công vụ, hiệu quả sau bồi dưỡng của công chức tại các vị trí việc làm và khả năng phát triển của bản thân. Như vậy, chất lượng bồi dưỡng công chức được hiểu là sự đáp ứng các tiêu chí đánh giá chất lượng bồi dưỡng đối với công chức khi tham gia hoạt động bồi dưỡng. Đặc điểm của công chức Liên đoàn Lao động tỉnh Hiện nay, trong bối cảnh tình hình mới công chức làm tại Liên đoàn Lao động tỉnh đảm bảo các đặc điểm sau: Trình độ lý luận chính trị: phải có kiến thức nhất định về lý luận chính trị mới có thế giới quan và phương pháp luận khoa học làm cơ sở cho nhận thức chính trị và xem xét, giải quyết vấn đề đúng đắn, khách quan.
Công chức có trình độ lý luận chính trị sẽ có năng lực nhận thức, nắm được các quy luật khách quan của cuộc sống, trên cơ sở đó đề ra các nội dung, phương pháp giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn phát sinh hàng ngày nhằm mang lại hiệu quả tối ưu, phù hợp với nguyện vọng của công nhân, lao động. Do vậy, công chức nhất thiết phải có trình độ lý luận chính trị và không ngừng học tập nâng cao trình 11 độ chính trị. Yêu cầu trình độ lý luận chính trị của công chức Liên đoàn Lao động tỉnh không đơn giản là có các chứng chỉ, bằng cấp mà cốt lõi là có khả năng biến các vấn đề đã được học thành nhận thức, hành động cụ thể, thiết thực. Năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ: Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của công đoàn và để khẳng định được vai trò, vị trí của mình, được công nhân viên chức, người lao động thừa nhận, đòi hỏi công chức Liên đoàn Lao động tỉnh phải có năng lực quán triệt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào việc đề ra chương trình, kế hoạch công tác của công đoàn; phải có năng lực vận động, tổ chức công nhân, lao động thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chương trình kế hoạch hoạt động của công đoàn.
Có trình độ học vấn, chuyên môn và nghiệp vụ công tác công đoàn: Trong điều kiện hiện nay, việc hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ đặt ra đòi hỏi khách quan phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn của đội ngũ công chức. Khả năng đoàn kết, vận động, tập hợp quần chúng: Đặc thù của hoạt động công đoàn là hoạt động quần chúng, do vậy không cho phép hành chính hóa, luật pháp hóa phương pháp hoạt động công đoàn. Hoạt động công đoàn phải mang tính giáo dục, thuyết phục cao nên phương pháp hoạt động công đoàn phải đa dạng, linh hoạt không cứng nhắc. Công chức phải biết xử lý sáng tạo các tình huống trong tổ chức hoạt động công đoàn nhằm đem lại kết quả cao, đây chính là đòi hỏi năng lực lựa chọn, sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động, năng lực vận động, tập hợp quần chúng cần có của công chức Liên đoàn Lao động tỉnh Về sức khỏe thể chất, tinh thần: Sức khỏe là một trong những yếu tố tạo nên năng lực của người công chức Liên đoàn Lao động tỉnh.
Vì năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Sức khỏe biểu thị khả năng về mặt thể 12 chất ở mỗi người, bao gồm cơ thể khỏe mạnh, khả năng chịu đựng áp lực khi bị ngoại cảnh tác động, đó là lòng kiên nhẫn, sức bền, độ dẻo dai trong công việc, sức sáng tạo, yếu tố tâm lý trước sự việc cần xử lý.