phần mở đầu, phần nội dung và phần quyết định. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng xét xử. Bản án sơ thẩm phải ghi rõ: a) Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử; b) Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng; c) Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; d) Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào.
Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật; đ) Phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào 16 chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra; e) Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; g) Quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định đó. Nội dung bản án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có những khác biệt cơ bản so với quy định bản án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, in đậm dấu ấn của cải cách tư pháp, mở ra mô hình tố tụng tranh tụng. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ bản án phải căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, theo đó bổ sung yêu cầu đối với bản án sơ thẩm là phải rõ ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra; phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử.
Về hình thức bản án, sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành một số Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó có Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19-9-2017 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Kèm theo Nghị quyết này, Hội đồng Thẩm phán còn ban hành các mẫu và cách viết một số văn bản, trong đó có mẫu bản án hình sự sơ thẩm (Mẫu bản án số 27-HS, kèm thêm phụ lục B). Về mẫu bản án: So với Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì quy định về bản án (các khoản 1, 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) có một số điểm mới như sau: 17 Phần Mở đầu: Phần mở đầu của bản án là phần ghi thông tin của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; thời gian, địa điểm tiến hành phiên tòa; thông tin về quyết định đưa vụ án ra xét xử; phiên tòa xét xử công khai hay xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử. Nghiên cứu mẫu bản án hình sự sơ thẩm, có thể thấy những điểm mới trong phần mở đầu bản án là: - Về cách ghi tên và chức danh của những người tiến hành tố tụng khác: đối với Thư ký phiên tòa, ngoài việc ghi rõ, đầy đủ họ tên thì phải ghi thêm ngạch chức danh (nếu Thư ký phiên tòa giữ ngạch Thư ký Tòa án thì ghi thêm nội dung “Thư ký Tòa án”, ngạch Thẩm tra viên thì ghi thêm “Thẩm tra viên”); đối với Kiểm sát viên, ngoài việc phải ghi rõ, đầy đủ họ tên thì phải ghi thêm ngạch Kiểm sát viên như “Kiểm sát viên sơ cấp”, “Kiểm sát viên trung cấp” hoặc “Kiểm sát viên cao cấp”.
- Bổ sung thành phần về dân tộc của bị cáo; bị cáo là pháp nhân thương mại; số CMND/số hộ chiếu/số căn cước công dân của bị cáo. Việc bổ sung nội dung này góp phần thể hiện chính xác, đầy đủ những đặc điểm riêng về nhân thân của bị cáo; đồng thời bổ sung một chủ thể mới phải chịu trách nhiệm hình sự là pháp nhân thương mại. - Sửa đổi cụm từ “Trú tại” thành “Nơi cư trú” của bị cáo cho phù hợp với quy định của Luật cư trú 2014. - Bổ sung việc ghi cụ thể họ tên của những người tham gia tố tụng khác, những người được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa mà trước đây nội dung này không phải là bắt buộc.
Có thể thấy rằng, mặc dù phần này mang nhiều ý nghĩa hình thức nhưng lại là những quy định nội dung về tố tụng. Vì vậy, việc ghi chính xác, đầy đủ các chi tiết, thông tin trong phần mở đầu của bản án là vô cùng cần thiết. Bởi nếu ghi thiếu, ghi sai thì gây khó khăn cho công tác thi hành án và khả năng bản án bị hủy, sửa là rất cao. Phần Nội dung, gồm: “Nội dung vụ án” và “Nhận định của Hội đồng xét xử”.
Về hình thức “Nội dung vụ án” và “Nhận định của Hội đồng xét xử” được 18 dùng thay cho “Nhận thấy” theo mẫu bản án hình sự cũ. Tuy nhiên, theo quy định mới thì “Nội dung vụ án” phải thể hiện đầy đủ các nội dung quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chứ không theo kết cấu, trình tự như mẫu có sẵn. Đây là một trong những điểm mới rõ nét nhất trong việc viết bản án hình sự sơ thẩm. Nội dung này tùy thuộc cách sắp xếp của từng Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, để tăng cường tính chủ động, khoa học trong việc thể hiện nội dung vụ án, bảo đảm mạch lạc, ngắn gọn, dễ hiểu.
Theo đó, nội dung vụ án phải tổng hợp đầy đủ, chính xác từng vấn đề cụ thể qua các nguồn thông tin, các giai đoạn tố tụng; cụ thể: - Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như bản Cáo trạng hoặc Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng; xử lý vật chứng của vụ án. Ngoài các tài liệu này, các biên bản về phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án; các lời khai, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan; biên bản đối chất; kết luận giám định; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện phạm tội và các tài liệu liên quan khác cũng có thể được cân nhắc đưa vào khi thấy cần thiết. - Quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ghi tóm tắt nội dung ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo các điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng và các nội dung khác liên quan đến việc giải quyết vụ án; lời khai của bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp (nếu có), người làm chứng tại phiên tòa; ý kiến của người bào chữa, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; ý kiến của người giám định, người định giá tài sản; ý kiến của người làm chứng, người chứng kiến và 19 những người khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa (nếu có). Cuối phần này là lời nói sau cùng của bị cáo nếu bị cáo có nói lời sau cùng.