Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Giới thiệu tổng quan về thị trường sữa thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây; giới thiệu khái quát về công ty sữa Vinamilk và Abbott. Chương 3: Trình bày các cơ sở lý thuyết về mức sẵn lòng chi trả. Chương 4: Xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu từ đó trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định các giả thuyết đã đề ra.
Chương 5: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Chương 6: Đe xuất các kiến nghị, những đóng góp của nghiên cứu này, cũng như trình bày những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Trang 5 Chương 2. Tổng quan thị trường CHƯƠNG 2 TỐNG QUAN THỊ TRƯỜNG Với chương này, trước hết tác giả trình bày tổng quan về thị trường sữa, các loại sàn phẩm sữa đang được cung cấp trên thị trường.
Đồng thời chương 2 sẽ giới thiệu tổng quan về công ty Vinamilk cũng như công ty Abbott cùng các sản phẩm của hai công ty này.1 Tổng quan về thị trường sữa 2.1 Tổng quan về thị trường sữa trên thế giới Trong 6 tháng đầu năm, giá sữa tại các thị trường liên tục giảm. Theo chỉ số giá thực phẩm của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), chì số sữa tháng 5/2012 là 164,1 giảm 11,58% so với tháng trước đó là mức thấp nhất từ tháng 10/2009 trở lại đây (tháng 10/2009 chỉ số sữa 157,5). Neu so với cùng kỳ năm 2011, chỉ số này đã giảm 29%. Sang tháng 7/2012, giá sữa có chiều hướng tăng nhẹ.
Tại Chicago, giá sữa chịu sự điều chỉnh của cả yếu tố cung nội địa và toàn cầu, dao động quanh mức 17,3 USD trong phiên giao dịch ngày 5/7, tăng 0,2% tính từ đầu năm. Tuy nhiên, xu hướng giá giảm trở lại những phiên giao dịch sau đó và đứng ở mức 16,7 USD. Tại Thái Lan, giá sữa tươi cao hơn sữa bột 40%. Nguyên nhân chủ yếu cho sự gia tăng này là do mức tiếu thụ trung bình của người Thái chỉ có 3 thìa một ngày, 13 lít một năm, thấp hơn mức tiêu thụ trung bình của người châu Á là 60 lít.Giá bột sữa nguyên kem của Tập đoàn Fonterra, thường dùng làm giá tham chiếu 2 tuần/lần trên toàn cầu, hiện cũng tăng 9,4% lên 2.721 USD/tấn sau khi chạm mức thấp hơn 2 năm hôm 15/5.
Giá sữa cũng đã chạm mức cao kỷ lục 4.958 USD/tấn vào tháng 3/2011 do nhu cầu nhập khẩu gia tăng và hạn hán kéo dài tại nhiều khu vực của New Zealand. về phía cạnh “cung - cầu” của thị trường sữa, sản xuất sữa của Mỹ tăng trưởng ngay từ những tháng đầu tiên của năm. Quí 1/2012 tăng trưởng mạnh, tăng 5,2%, trong khi tháng 4 và tháng 5 chỉ tăng 2%, tháng 6 tăng 0,9% (Theo Báo cáo của Sở Nông nghiệp Mỹ). New Zealand sàn xuất 19.130 nghìn tấn sữa trong năm 2012, tăng 2,4%.
Còn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Ắn Độ Sharad Pawar cho biết, đối mặt với sự thiếu hụt 40% của thức ăn gia súc, sẽ là khó khăn đối với nước này để đạt được mục tiêu 160 triệu tấn sữa sản xuất vào năm 2020. Tại Nga, đàn bò sữa tăng lên 3. Trang 6 Chương 2. Tong quan thị trường Do có những cải tiến về chất lượng đàn bò và trang trại nên sản lượng sữa trung bình trên các trang trại bò sữa đã tăng 31% so với cùng kỳ năm trước lên 42,1 tấn mỗi ngày.
Bên cạnh đó, lo sợ khi chứng kiến hàng loạt vụ bê bối an toàn thực phẩm trong nước, tại Trung Quốc người dân đua nhau nhập sữa bột từ nước ngoài. Xu hướng này khiến các nguồn cung cấp sữa bột trên toàn cầu bị sụt giảm. Trong báo cáo công bố ngày 10/5, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng sữa Mỹ năm 2013 đạt 201,8 tỷ Ib, và tiêu thụ đạt 200,8 tỷ Ib. Như vậy, sản lượng sữa năm 2013 sẽ cao hơn khoảng 0,7% so với năm 2012.Giá sữa và sản phẩm sữa bán lẻ sẽ tăng 3,5-4,0% một năm do tác động của lạm phát trung bình khoảng 2- 3%/năm, do nền kinh tế thế giới đã hồi phục, đi cùng với sức ép về gia tăng dân số, đô thị hóa, thu nhập được cải thiện và nhận thức của công đồng về vai trò dinh dưỡng của sữa và sản phẩm sữa đối với sự phát triển của còn người, đặc biệt là trẻ em.2 Tổng quan về thị trường sữa Việt Nam Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, thị trường sữa Việt Nam hứa hẹn là một thị trường đầy tiềm năng.
Mức tiêu thụ các sản phẩm từ sữa của người Việt Nam là 14,81 lít một người trong một năm, còn thấp so với Thái Lan (23 lít một người trong một năm) và Trung Quốc (25 lít một người trong một năm). Người dân có mức thu nhập tăng cùng với việc hiểu biết hơn về lợi ích của sữa khiến nhu cầu tiêu dùng sữa ngày càng tăng cao (20-25% một năm, trong đó sữa nước tăng 8-10% một năm). Doanh nghiệp tham gia vào ngành sản xuất, chế biến sữa đã tăng mạnh trong 10 nãm qua, theo Tổng Cục Hải Quan Việt Nam hiện nay trên thị trường nước ta có khoảng 200 doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu và sữa thành phần, có gần 500 dòng sàn phẩm sữa. Tuy nhiên, lượng sữa sản xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu, và chủ yếu phục vụ cho sản xuất sữa nước.
Khoảng 70% còn lại là nhập khẩu, trong đó 50% là sữa nguyên liệu và 20% là sữa thành phẩm. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng Cục Hải quan cho thấy kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa trong 3 quý đầu năm 2013: Trang 7 Chương 2. Tổng quan thị trường Bảng 2.1 Bảng kim ngạch nhập khẩu sữa và sàn phẩm sữa trong 3 quý đầu năm 2013 Trị giá (USD) Tốc độ +/- (%) so cùng kỳ 3 tháng 234.428 25,10 Nguồn: Tổng Cục Hài Quan, theo báo vinanet.vn Tính trong 9 tháng đầu năm, cả nước đã nhập khẩu 804,4 triệu USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm 2012. Các thị trường cung cấp sữa và các sản phẩm cho thị trường Việt Nam trong giai đoạn này, bao gồm: New Zealand, Mỹ, Singapo, Hà Lan, Thái Lan; trong đó New Zealand là thị trường chính, chiếm 23,6% tổng kim ngạch, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2012.
Thị trường đứng thứ hai là Mỹ với kim ngạch 146,6 triệu USD, tăng 54,63%. Đặc biệt, nhập khẩu sữa và sản phẩm từ thị trường Philippin trong thời gian này tăng mạnh, tuy kim ngạch chỉ đạt 8,5 triệu USD, nhưng tăng 122,45% so với cùng kỳ. Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm đều tăng trưởng ở hầu khắp các thị trường, chỉ có hai thị trường giảm kim ngạch đó là Pháp giảm 30,73%; Đức giảm 39,42% và Nhật Bản giảm 15,32%.2 Bảng thị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa trong 9 tháng năm 2013 KNNK 9T/2013 KNNK 9T/2012 Tốc độ +/- (%) (USD) (USD) Tổng KNNK 804.090 -30,73 Trang 8 Chương 2. Tong quan thị trường Đức 30.198 0,24 rây ban Nha 5.744 -100,00 Nguồn: Tồng Cục Hài Quan, theo báo vinanet.vn Trong ngành sữa, sữa bột công thức là nhóm tỷ trọng lớn nhất và có tốc độ tăng trường rất cao, trung bình lên tới 20,8%/ năm trong giai đoạn 2004- 2009.vn, Thị trường sữa bột của Việt Nam hiện cố doanh thu vào khoảng 2359 tỉ đồng trong năm 2012, chiếm 1/4 doanh thu toàn thị trường sữa.
■ Doanh thu sữa bột hằng năm Nguồn: Báo cáo cùa BMI, theo cafebiz.1 Doanh thu sữa bột tại thị trường Việt Nam qua các năm Qua các số liệu thống kê, có thể thấy rằng thị trường sữa bột có mức tăng trường trung bình 7%/năm, đây là phân khúc đầy tiềm năng của ngành sữa. Nhìn Trang 9 Chương 2. Tổng quan thị trường chung, thị trường sữa bột đã tăng mạnh cả về nhu cầu và nguồn cung cấp. Do đó, nghiên cứu này sẽ chọn dòng sữa bột làm đối tượng nghiên cứu.
Theo thống kê sơ bộ hiện có hơn 300 thương hiệu sữa bột đang cạnh tranh trong thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, các công ty ngoại chiếm đa số. Khi tìm đến một cửa hàng bất kỳ, nhìn ỉên kệ bán sữa bột là có thể biết ngay sữa nội hay ngoại đang thổng lĩnh thị trường. Trên các kệ tràn ngập các loại sữa bột ngoại với đấy những tên tuổi lớn như Abbott, MeadJohnson, Nestle, Dumex.
Theo báo cáo của Euromonitor năm 2010, Abbott là công ty đang chiếm ưu thế với khoảng 24% thị phần, tiếp theo sau là Vinamilk, Mead Johnson, Friesland Campina. Sức hút thị trường Việt Nam đang thu hút rất nhiều hãng sữa lớn. Nguồn: EMI2010, theo cafebiz.2 Thị phần sữa bột tại thị trường Việt Nam năm 2010 Hiện tại, Công ty Abbott là công ty sữa ngoại đang dẫn dầu trong thị phần về sữa bột tại Việt Nam. Do đó, trong nghiên cứu này sẽ chọn một loại sản phẩm trong nhóm sữa bột của Công ty Abbott để làm đại diện cho sản phẩm của các Công ty sữa ngoại đang chiếm lĩnh thị trường Việt.
Đồng thời, sản phẩm cùng loại của Công ty sữa Việt Nam (Vinamilk) được chọn làm đại diện cho các Công ty sữa nội. Hiện nay, trên thị trường, mỗi công ty đều có khá nhiều dòng sản phẩm khác nhau với các mức giá trải đều từ thấp đến cao. Nhìn chung sản phẩm sữa bột cho trẻ em dưới sáu tuồi được phân ra thành 4 nhóm sản phẩm chính theo độ tuổi: 0-6 tháng tuổi, 6-12 tháng tuổi, 1-3 tuổi và 3-6 tuổi. Ngoài dòng sản phẩm thông dụng, một số Trang Ỉ0 Chương 2.
Tỏng quan thị trường công ty còn phát triển sản phẩm đặc trưng cho những trẻ cần chế độ dinh dưỡng đặc biệt như trẻ suy dinh dưỡng, sinh thiếu tháng, dị ứng với sữa bò, không dung nạp đường lactose. Nếu tính theo thị phần của từng dòng sản phẩm, dòng sữa Dielac của Vinamilk đang chiếm thị phần cao nhất với khoảng 12,8% tổng thị phần. Tiếp theo sau là Gain của Abbott.